Skip to content
Menu
Tự học RHM
  • Trang chủ
  • Nha khoa
    • Bệnh học
    • Implant
    • Phẫu thuật miệng
    • Chỉnh nha
    • Chữa răng
    • Nội nha
    • Phục hình
    • Nha chu
    • VLNK
  • Tản mạn về sách
  • Sức khỏe
  • Tôi là ai?
  • Fanpage
Tự học RHM

Các nguyên tắc khi thực hiện phục hình dán

Posted on 29/10/202504/11/2025

Mục lục

Toggle
  • 1. Giới thiệu
  • 2. Năm nguyên tắc của nha khoa trên nướu
    • 2.1. Nguyên tắc đầu tiên: Loại bỏ sâu răng và vật liệu cũ thật cẩn thận khi gần với đường viền nướu
    • 2.2. Nguyên tắc thứ hai: Tránh sử dụng hộp, mài thành trục hoặc lưu giữ cơ học (Tin tưởng vào độ bám dính)
    • 2.3. Nguyên tắc thứ ba: Kỹ thuật bảo tồn viền men răng
    • 2.4. Nguyên tắc thứ tư: Kỹ thuật nâng đường hoàn tất
    • 2.5. Nguyên tắc thứ năm: Sử dụng độ trong hợp lý để tạo sự hài hòa và tính thẩm mỹ cho đường viền phục hình
    • Related

1. Giới thiệu

Nha sĩ sử dụng hai phương pháp để phục hồi răng bị tổn thương: Trực tiếp và gián tiếp. Phục hồi trực tiếp được áp dụng cho những răng bị tổn thương ở mức độ trung bình, cấu trúc răng không bị ảnh hưởng và có thể được phục hồi an toàn bằng vật liệu có khả năng đông cứng ngay lập tức, chẳng hạn như amalgam hoặc composite (Hình 3.1).  Mặt khác, phục hình gián tiếp được dành riêng cho những răng bị hư hỏng nặng, yếu về mặt cấu trúc. Việc che phủ toàn bộ hoặc một phần sẽ giúp gia cố răng và thường yêu cầu vật liệu được chế tác trong phòng lab hoặc gần đây hơn là CAD-CAM. Nha khoa dán đã nhanh chóng thay đổi các nguyên tắc và làm mờ ranh giới giữa thời điểm răng thực sự quá yếu để phục hình bằng kỹ thuật trực tiếp và thời điểm một hoặc nhiều múi răng quá yếu về mặt cấu trúc và cần được che phủ (Hình 3.2a, b). Vật liệu composite dán đã được chứng minh là có khả năng gia cố cấu trúc răng.

Mão toàn phần là phương pháp gián tiếp phổ biến nhất, được chứng minh bằng mức độ sử dụng và y văn, và vẫn được hầu hết mọi người coi là phương pháp điều trị lý tưởng cho răng yếu và bị hư hỏng nặng. Veneer và onlay được giữ bằng keo dán chỉ được sử dụng hạn chế khi đáp ứng một số tiêu chí. Phương pháp tiếp cận nha khoa trên nướu là một bước chuyển đổi, bởi vì nó có mục tiêu độc đáo và có chủ đích là sử dụng mọi kỹ thuật và thủ thuật lâm sàng hiện có để cố giữ cho các bờ phục hồi trên nướu và loại bỏ càng ít răng khỏe mạnh càng tốt. Ngoài ra, không giống như thực hành nha khoa truyền thống, phục hình dán trên nướu che phủ một phần không chỉ giới hạn ở những trường hợp dễ dàng. Nghiên cứu và kinh nghiệm cho thấy ngay cả những răng bị tổn thương nặng nhất cũng có thể được phục hồi thành công bằng cách sử dụng phục hình che phủ một phần trên nướu xâm lấn tối thiểu (Hình 3.3a, b, 3.4a-c).

2. Năm nguyên tắc của nha khoa trên nướu

Khi sâu răng hoặc phục hình cũ thực sự nằm dưới nướu, thì cần có một phác đồ để sửa chữa và cô lập tổn thương, đồng thời tránh gây tổn thương thêm cho răng hoặc mô nha chu, tận dụng những lợi ích tuyệt vời của phục hình được giữ bằng keo dán.

Việc đặt ĐHT dưới nướu theo truyền thống là sản phẩm phụ của nhu cầu cơ học, nhu cầu thẩm mỹ và các quy tắc phục hồi cũ. Do đó, kết quả cuối cùng của đường hoàn tất dưới nướu được coi là bình thường và cần thiết. Việc phá vỡ mô hình này đòi hỏi các quy tắc mới. Không còn để mặc cho sự ngẫu nhiên nữa, một số quy tắc được tuân theo để bảo tồn đường viền trên nướu khi có thể và để sửa chữa đường hoàn tất dưới nướu khi cần thiết. Năm nguyên tắc này sẽ giúp ngăn ngừa hoặc giảm thiểu đáng kể đường hoàn tất dưới nướu với các phục hình trực tiếp và gián tiếp.

2.1. Nguyên tắc đầu tiên: Loại bỏ sâu răng và vật liệu cũ thật cẩn thận khi gần với đường viền nướu

Vì vùng viền nướu của răng rất quan trọng đối với sự thành công của quy trình dán, nên việc loại bỏ sâu răng và vật liệu phục hồi ở vùng này là bắt buộc. Khi việc sửa soạn gần nướu, cần hết sức cẩn thận và chú ý như khi mũi khoan gần tủy (Hình 3.5a-d). Tuy nhiên, sự chấp nhận chung rằng mài dưới nướu là điều tất yếu và bình thường, kết hợp với việc thiếu một giao thức trên nướu có chủ đích có thể ảnh hưởng rất lớn đến quyết định về vị trí của đường hoàn tất.

Có một thái độ khác khi làm việc gần tủy. Các nha sĩ phục hình rất cẩn thận, sử dụng các kỹ thuật đặc biệt và thậm chí các công cụ khác nhau, chẳng hạn như dụng cụ nạo ngà và mũi khoan lớn, tròn, tốc độ chậm, cùng với thuốc nhuộm sâu răng, để cẩn thận loại bỏ sâu răng gần tủy. Tài liệu và kinh nghiệm cho thấy, với sự cẩn thận và kỹ thuật phù hợp, có thể giảm thiểu hoặc tránh được việc lộ tủy. Cần hết sức cẩn thận khi mài sửa soạn viền nướu. Khi thực hiện cẩn thận như vậy, điều này sẽ giúp giảm thiểu và thậm chí ngăn ngừa tình trạng dưới nướu (Hình 3.6a-c, 3.7a-c). Cần có nguồn sáng và độ phóng đại tốt khi làm việc ở vùng viền nướu.

Ngay cả khi sâu răng dưới nướu hoặc vật liệu phục hồi là không thể tránh khỏi, tổn thương vẫn có thể được hạn chế bằng kỹ thuật cẩn thận. Ở vùng quan trọng này, chỉ cần 1-2 mm cũng có thể tạo nên sự khác biệt. Đường hoàn tất dưới nướu chỉ 0,5 mm là có thể kiểm soát được, trong khi đường hoàn tất dưới nướu từ 1,5 mm trở lên sẽ gây ra nhiều biến chứng hơn và kết quả không chắc chắn (Hình 3.8a-c).

Các bước sau đây được đề xuất để loại bỏ cẩn thận sâu răng và phục hình cũ ở hoặc gần viền nướu và để ngăn ngừa đường hoàn tất dưới nướu:

  1. Sử dụng độ phóng đại 3,5-4,5 lần khi làm việc gần khu vực đường hoàn tất là tốt nhất (Hình 3.9).
  2. Sau khi loại bỏ hiệu quả sâu răng, vật liệu phục hồi cũ và hạ khớp cắn, bác sĩ lâm sàng nên:
    • chậm lại khi gần đến viền nướu
    • sử dụng mũi khoan kim cương dài hơn để có tầm nhìn tốt hơn
    • hết sức cẩn thận khi loại bỏ phần sâu răng còn lại hoặc vật liệu phục hồi cũ.
  3. Thuốc nhuộm sâu răng là không thể thiếu để ngăn ngừa việc loại bỏ ngà răng không bị nhiễm trùng (kỹ thuật chi tiết để sử dụng thuốc nhuộm sâu răng được trình bày trong Chương 10).
  4. Bảo tồn men răng khỏe mạnh gần viền nướu, kể cả khi không có ngà hỗ trợ (kỹ thuật bảo tồn viền men răng).

2.2. Nguyên tắc thứ hai: Tránh sử dụng hộp, mài thành trục hoặc lưu giữ cơ học (Tin tưởng vào độ bám dính)

Hộp mặt bên và mài thành trục là một phần của nha khoa phục hồi. Việc thiếu tin tưởng vào độ bám dính khiến những điều này trở thành một phần của nha khoa. Tuy nhiên, tin tưởng vào độ bám dính sẽ khiến sự lưu giữ cơ học trở nên lỗi thời (Hình 3.10a-d). Sự thiếu tin tưởng vào độ dán dính, kết hợp với thói quen và giáo dục, khiến bác sĩ lâm sàng thường tạo một hộp ở mặt bên mỗi khi cần loại bỏ sâu răng vùng kẽ, bất kể sâu răng lớn đến mức nào (Hình 3.11). Khi mà gờ bên yếu và cần che phủ mặt nhai của gờ bên, thì hộp truyền thống là cách tiến hành thông thường. Hộp vùng kẽ cũng đã được sử dụng như một phần không thể thiếu của quá trình mài sửa soạn lưu giữ cơ học cho các phục hình trực tiếp và gián tiếp (Hình 3.12). Tuy nhiên, hộp mặt bên có một số nhược điểm nghiêm trọng. Chúng đòi hỏi phải lấy đi một lượng lớn mô răng khỏe mạnh, và hộp trám răng truyền thống đòi hỏi phải có độ hở mặt bên, bao gồm cả phần nướu. Phương pháp phổ biến là tiếp tục hạ thấp sàn nướu của hộp trám răng cho đến khi đạt được độ hở. Kỹ thuật này có hai hậu quả tiêu cực. Thứ nhất, khi sàn nướu bị hạ thấp, các bờ nướu sẽ bị tụt xuống dưới nướu và sẽ xảy ra chảy máu (Hình 3.13). Thứ hai, độ dày men răng đôi khi bị mất đi. Cả hai hậu quả này đều phản tác dụng với các thủ thuật dán. Việc hạ thấp hộp trám răng có thể được thay thế bằng một kỹ thuật khác, “kỹ thuật tách viền cổ” (cervical margins separation technique).

Tương tự, việc mài sửa soạn các thành trục và ferrule cũng phản tác dụng, thường buộc các bờ phục hình phải nằm dưới nướu, nhằm mục đích lưu giữ và tạo dạng kháng lực. Độ bám dính đủ để hỗ trợ bất kỳ phục hình nào mà không cần lưu giữ cơ học. Do đó, việc sử dụng đúng cách và tin tưởng vào độ bám dính sẽ ngăn ngừa các bờ phục hình nằm dưới nướu (Hộp 3.1; Hình 3.14a-d, 3.15).

Hộp 3.1 Một kỹ thuật thay thế để thay thế hộp mặt bên trong phục hồi trực tiếp (mài sửa soạn khe)

  1. Nếu chưa có hộp nào trước đó, đừng tạo hộp theo cách truyền thống.
  2. Khi có sâu răng, hãy sử dụng phương pháp tiếp cận bảo tồn qua gờ bên. Tránh mở rộng theo kiểu truyền thống thành hình hộp (Hình 3.17a).
  3. Thực hiện việc loại bỏ sâu răng cẩn thận, bỏ qua phần răng bị lẹm và sử dụng thuốc nhuộm sâu răng (Hình 3.17b).
  4. Không bao giờ cố gắng tạo khoảng bằng cách hạ thấp sàn nướu. Có thể chấp nhận được việc để rìa bề mặt xoang tiếp xúc với răng bên cạnh.
  5. Sử dụng chêm để tạo đủ khoảng để matrix band có thể vừa khít, ngay cả khi xoang tiếp xúc với răng bên cạnh (Hình 3.17c).

Kỹ thuật tách viền cổ

  1. Trong thực hành lâm sàng, đôi khi khi răng tiếp xúc với răng bên cạnh, việc đưa một matrix mỏng vào có thể gặp khó khăn. Nếu không thể đặt matrix, hãy thực hiện “kỹ thuật tách viền cổ răng” thay vì hạ thấp sàn nướu.
  2. Sử dụng đai nhám kẽ (như Jiffy Diamond Strip, Ultradent) hoặc mũi khoan mosquito (như mũi khoan kim cương Brasseler 8392-016) để tạo độ tách ở mặt bên (cổ răng), sử dụng chêm bảo vệ (như WedgeGuard, Triodent). Chỉ cần tạo đủ khoảng trống để matrix đi qua (Hình 3.17d). Cần lưu ý không cố gắng tách cổ răng khi răng vẫn còn tiếp xúc mạnh với răng bên cạnh.

Hộp 3.2 Một kỹ thuật để thay thế hộp mặt bên trong phục hồi gián tiếp (Hình 3.18a-g)

  1. Nếu chưa có hộp nào trước đó, không cắt hộp theo cách truyền thống (Hình 3.18a).
  2. Thực hiện mài mặt bên khoảng 2-3 mm theo chuyển động hình chữ U. Đôi khi cần mài 3+mm để gờ bên nằm thấp hơn điểm tiếp xúc một chút nhưng vẫn cao hơn nướu. Nên sử dụng chêm an toàn.
  3. Làm mềm các góc bên trong nếu đã có hộp.
  4. Không bao giờ cố gắng tạo khoảng bằng cách hạ thấp sàn nướu.

Kỹ thuật tách viền cổ

  1. Sử dụng đai nhám kẽ (như Jiffy Diamond Strip) hoặc mũi khoan mosquito (như Brasseler 8392-016) để thực hiện tách cổ, cho phép lấy dấu rõ ràng và dễ dàng đổ mẫu.
  2. Cần chú ý tránh tạo ra sự tách rời khi răng liền kề tiếp xúc mạnh, vì sự tách rời sẽ rất khó khăn và sẽ dẫn đến tiếp xúc dài, phẳng, không tự nhiên, khó khắc phục bằng phục hình gián tiếp (Hình 3.18f). Một lần nữa, điều quan trọng là phải hạ nhẹ gờ bên dưới điểm tiếp xúc.

Trong quá trình sửa soạn onlay gián tiếp, các hộp mặt bên có thể được thay thế bằng cách cắt bớt 2+mm hình chữ U đơn giản ở gờ bên và mặt bên, sau đó thực hiện một thủ thuật thay thế để tạo khoảng hở (Hộp 3.2). Thay vì hạ thấp sàn nướu để tạo khoảng hở, có thể sử dụng “kỹ thuật tách viền cổ” để đạt được khoảng hở và độ tách cần thiết để lấy dấu rõ ràng (Hình 3.16a-с).

2.3. Nguyên tắc thứ ba: Kỹ thuật bảo tồn viền men răng

Ý tưởng bảo tồn men răng cho mục đích thẩm mỹ hoặc phục hồi không phải là mới. Tuy nhiên, một nguyên tắc cơ bản đã được chứng minh rõ ràng trong việc mài sửa soạn xoang sâu là loại bỏ toàn bộ men răng không được nâng đỡ để ngăn ngừa nứt men răng. Điều quan trọng cần hiểu là các quy tắc như loại bỏ men răng mà không có ngà nâng đỡ được áp dụng vào thời điểm nha khoa chưa có chất dán. Lợi ích của việc bảo tồn men răng ở ĐHT để tạo điều kiện cho một đường viền trên nướu là rất quan trọng, vì nó đơn giản hóa và tăng khả năng dự đoán của mọi quy trình tiếp theo (Hình 3.19a-e). Đã có nhiều tài liệu chứng minh rằng việc hoàn thiện phục hình trên men răng làm tăng khả năng seal kín lâu dài của phục hình. Đối với phục hình trực tiếp, phương pháp cho phép đường viền bề mặt và đường viền phục hình nằm trên nướu sẽ đơn giản hóa đáng kể việc phục hình trực tiếp. Đường viền trên nướu dễ dàng cô lập hơn, việc đặt các matrix band, seal kín viền bằng chêm, phục hồi, loại bỏ lớp composite thừa và hoàn thiện sẽ dễ dàng hơn, do đó giúp việc phục hình trực tiếp dễ dàng và thành công hơn (Hình 3.20a, b). Trong các trường hợp gián tiếp, sau khi hoàn tất quy trình bảo tồn viền men, việc lấy dấu sẽ dễ dàng hơn, và sau đó quy trình dán để gắn onlay hoặc veneer sẽ được đơn giản hóa đáng kể nhờ khả năng cô lập dễ dàng nhờ các bờ trên nướu. Phục hình dán sẽ che phủ và bảo vệ thêm bờ men răng được bảo tồn, đồng thời củng cố thêm vùng này (Hình 3.21a-c). Tác giả đã có kinh nghiệm lâm sàng thành công rộng rãi với quy trình này (Hình 3.22a-i).

Bảo tồn bờ men răng được sử dụng trong các trường hợp sâu răng cổ răng lan rộng, khi men răng khỏe mạnh nhưng ngà răng bị nhiễm. Men răng trên nướu được bảo tồn cẩn thận mà không cần ngà nâng đỡ, và men răng không được nâng đỡ sau đó được sửa chữa bằng vật liệu composite được dán đúng cách. Dựa trên bằng chứng từ tài liệu, có thể mong đợi rằng men răng sẽ lấy lại phần lớn sức mạnh ban đầu của nó. Người ta đều biết rằng men răng không có ngà răng hỗ trợ thì yếu và vì lý do đó, cần phải tuân theo một giao thức cẩn thận và được cân nhắc kỹ lưỡng để bảo vệ men răng trong quá trình sửa chữa và để giảm thiểu lực trùng hợp có thể gây ra các vết nứt trên men răng. Trong một nghiên cứu in vitro, Ruiz và Finger đã chứng minh không có vết nứt nhỏ nào trên men răng không được nâng đỡ khi sử dụng kỹ thuật bảo tồn men răng. Cải thiện kết quả thu được khi độ dày men răng lớn hơn 1 mm (Hình 3.23a,b). Kỹ thuật được sử dụng được thể hiện trong Hộp 3.3.

Hộp 3.3 Các bước lâm sàng để bảo tồn bờ men răng trong các thủ thuật trực tiếp và gián tiếp

  1. Cẩn thận loại bỏ sâu răng ở cổ bằng cách sử dụng thuốc nhuộm sâu răng (Hình 3.24a).
  2. Bảo tồn toàn bộ độ dày của men răng khỏe mạnh, ngay cả khi không có ngà răng nâng đỡ, cho phép viền bề mặt khoang răng vẫn nằm trên nướu (Hình 3.24b).
  3. Ngay sau khi loại bỏ sâu răng, hãy cách ly bằng hệ thống mà bạn chọn; tránh để nước bọt chạm vào răng.
  4. Nếu thích hợp, hãy cẩn thận đặt matrix và chêm.
  5. Xoi mòn chọn lọc viền men răng bằng axit photphoric trong 10 giây (như SureEtch® Gel, Danville; Hình 3.24c).
  6. Áp dụng hệ thống dán self-etch (như Clearfil™ SE Protect, Kuraray), sử dụng quy trình và phương pháp trùng hợp thích hợp (Hình 3.24d). Để biết giao thức dán chi tiết, hãy xem Chương 4.
  7. Đặt một lớp mỏng composite lỏng lên riêng ngà răng để giảm thiểu ứng suất trùng hợp trên men răng không được nâng đỡ, sau đó tiến hành trùng hợp tăng dần (Hình 3.24e). Để biết thêm thông tin về trùng hợp tăng dần, xem Chương 10.
  8. Đối với phục hình gián tiếp, đặt lớp vật liệu phục hình thứ hai ngang bằng men răng, trùng hợp, hoàn thiện và lấy dấu (Hình 3.24f).
    • Đối với phục hồi trực tiếp, hãy đặt thêm các lớp vật liệu phục hồi để lấp đầy khoang và hoàn thiện (để biết giao thức chi tiết về việc trám từng lớp, hãy xem Chương 10).

2.4. Nguyên tắc thứ tư: Kỹ thuật nâng đường hoàn tất

Có nhiều trường hợp sâu răng hoặc đường viền phục hình cũ đã nằm dưới nướu. Kinh nghiệm lâm sàng cho thấy đường hoàn tất dưới nướu 0,5-1 mm thường dễ xử lý khi chỉ giới hạn ở một vùng nhỏ. Có thể cô lập và gắn xi măng tốt. Khi đường viền phục hình sâu hơn 1,5 mm dưới nướu, việc cô lập trong quá trình dán có thể bị ảnh hưởng và khó dự đoán hơn. Trong những trường hợp như vậy, thường chỉ định mão sứ toàn phần, cho phép sử dụng xi măng glass ionomer biến tính nhựa (RMGI) (chẳng hạn như Meron Plus AC, VOCO hoặc Xi măng gắn RelyX™, 3M) ít bị nhiễm hơn. Một lựa chọn tốn kém hơn, đau đớn hơn và phức tạp hơn là làm dài thân răng, điều này cũng bắt buộc nếu ranh giới phục hình vi phạm khoảng sinh học.

Một kỹ thuật thay thế cho mão truyền thống hoặc làm dài thân răng là nâng đường hoàn tất (Hình 3.25a-e). Thủ thuật này đã được chứng minh là thành công và làm tăng tính đơn giản cũng như hiệu quả của phục hình gián tiếp. Thủ thuật này được sử dụng sau khi loại bỏ sâu răng và vật liệu phục hình cũ, khi bờ răng nằm sâu đáng kể dưới nướu. Tại thời điểm đó, một matrix được đặt và quá trình build up hoặc nâng ĐHT được thực hiện, nó có thể được coi là một phục hình xoang II ngắn, không cần phải tạo tiếp điểm. Một lợi thế quan trọng của kỹ thuật này là, khi sử dụng đúng kỹ thuật, sự co trùng hợp và ứng suất sẽ thuận lợi. Sàn cổ và sự co trùng hợp sẽ kéo vật liệu composite về phía đường viền được dán. Cần phải cẩn thận thực hiện việc cô lập, tạo ra một đường viền được bịt kín tốt. Nên xác nhận bằng phim X-quang, cùng với việc xác nhận lâm sàng về độ kín của đường viền (Hình 3.26a-g). Sử dụng vật liệu composite lỏng có độ cản quang cao sẽ giúp việc xác minh bằng X-quang dễ dàng hơn. RMGI có thể được sử dụng để nâng đường viền, mặc dù hiện nay ít phổ biến hơn. Để tránh đường viền bị nhìn nhầm là hở trên phim X-quang, nên sử dụng keo dán rất mỏng, trừ khi keo đó cản quang.

Sau khi nâng cao đường hoàn tất, sẽ lấy dấu răng và tiến hành phục hình tạm. Việc gắn xi măng sẽ dễ dàng vì tất cả các đường viền đều sẽ ở trên nướu. Các bước lâm sàng để nâng ĐHT được trình bày trong Hộp 3.4.

Hộp 3.4 Các bước lâm sàng để nâng ĐHT

  1. Cẩn thận loại bỏ sâu răng và vật liệu phục hồi cũ, sử dụng thuốc nhuộm sâu răng để tránh loại bỏ ngà răng không bị nhiễm một cách không cần thiết (Hình 3.27a).
  2. Ngay sau khi loại bỏ sâu răng, hãy cách ly bằng hệ thống mà bạn chọn.
  3. Đặt matrix và chêm.
  4. Bôi keo dán self-etch và chiếu đèn (Hình 3.27b).
  5. Đặt một lớp mỏng vật liệu composite lỏng lên sàn nướu, tránh tiếp xúc với thành trục men răng, sau đó tiến hành chiếu đèn dần dần (Hình 3.27c,d). Nhớ chờ 2 phút trước khi trùng hợp lần tiếp theo để giảm ứng suất trùng hợp.
  6. Đặt một lớp thứ hai, lớp này sẽ chạm vào thành trục và sàn nướu. Sử dụng vật liệu composite phục hồi, trám lên trên nướu khoảng 1-2 mm và tiến hành trùng hợp từng phần (Hình 3.27e).
  7. Xác nhận độ kín bằng phim X quang.
  8. Thực hiện bước trùng hợp sau cùng, hoàn tất khâu mài sửa soạn và lấy dấu sau cùng.

2.5. Nguyên tắc thứ năm: Sử dụng độ trong hợp lý để tạo sự hài hòa và tính thẩm mỹ cho đường viền phục hình

Sự kết hợp của răng và phục hình phụ thuộc vào lượng ánh sáng được vật liệu truyền đến răng. Nên tạo hiệu ứng “contact lens” để viền phục hồi hòa quyện tối đa. Ba yếu tố quan trọng để đạt được sự hòa quyện mong muốn. Yếu tố thứ nhất là lựa chọn vật liệu phục hồi có độ trong mờ và độ dày phù hợp. Yếu tố thứ hai là độ trong hoặc độ đục của xi măng được chọn, và yếu tố thứ ba là màu răng bên dưới. Một phục hình trong mờ tự nhiên, đặc biệt là ở viền, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc đặt viền phục hồi trên nướu.

Việc thiếu hiểu biết về cách quản lý độ trong và thiếu hiểu biết về những nhược điểm của các đường hoàn tất dưới nướu đã khiến việc sử dụng vật liệu đục trở nên phổ biến, đôi khi thậm chí còn cố tình tránh các lựa chọn trong mờ hơn. Việc sử dụng các phục hình đục làm cho việc đặt đường hoàn tất dưới nướu trở thành một quy trình tiêu chuẩn (Hình 3.28a, b). Việc khắc phục sự khác biệt lớn về màu sắc với các vật liệu phục hình (sứ hoặc composite) sẽ yêu cầu sử dụng vật liệu đục. Vật liệu đục kém thẩm mỹ hơn và thường dẫn đến phục hình sau cùng trông đục, và sự hòa trộn đường viền phục hình kém, buộc phải đặt đường hoàn tất dưới nướu (Hình 3.29).

Mặt khác, việc sử dụng vật liệu trong mờ đòi hỏi phải chú ý đến màu sắc của nền răng, vì điều này sẽ ảnh hưởng đến màu sắc cuối cùng của phục hình. Do đó, thường nên tẩy trắng răng trước khi thực hiện quy trình phục hình để có được màu sắc gần với màu sắc cuối cùng mong muốn. Điều này sẽ cho phép sử dụng vật liệu phục hình trong mờ hơn, với kết quả tự nhiên hơn và khả năng hòa trộn đường viền tốt hơn với đường viền trên nướu (Hình 3.30).

Các sản phẩm tẩy trắng tại phòng khám như Venus White (Kulzer) rất hiệu quả (Hình 3.31a-e). Trong trường hợp răng đã điều trị nội nha bị sẫm màu, nên sử dụng tẩy trắng nội tủy để răng sậm màu trông sáng hơn và gần với màu sắc mong muốn cuối cùng (Hình 3.32a-d). Mặc dù có nguy cơ tái phát màu (với kỹ thuật tốt, nguy cơ này rất nhỏ), nhưng giải pháp thay thế là đặt viền mão răng dưới nướu thường quy. Như đã thảo luận trước đó, giải pháp này không hiệu quả và kém an toàn, vì viền mão răng dưới nướu sẽ gây viêm, dẫn đến tụt nướu và cuối cùng là làm lộ viền mão răng. Tuy nhiên, răng sậm màu là một vấn đề nan giải và bất kỳ giải pháp nào cũng chỉ là sự thỏa hiệp. Thông tin bổ sung về chủ đề này có trong Chương 7.

Hiểu rằng răng cửa và răng hàm có yêu cầu thẩm mỹ và khớp cắn rất khác nhau có nghĩa là vật liệu được chọn sẽ khác nhau. Răng càng ở trước, yêu cầu thẩm mỹ càng cao và lực nhai càng thấp, do đó, sứ feldspathic đa lớp hoặc sứ ép thường được chỉ định. Ở vùng răng hàm, lực nhai lớn hơn và yêu cầu thẩm mỹ thấp hơn, do đó, các vật liệu có đặc tính bổ sung, chẳng hạn như lithium disilicate, zirconia đa lớp hoặc nguyên khối hoặc Lava™ Ultimate Restorative (3M), sẽ được ưa chuộng. Điều thú vị cần lưu ý là, nhìn chung, vật liệu càng trong thì càng yếu, mặc dù điều này không phải là tuyệt đối.

Cuối cùng, khoa học về độ trong mờ rất phức tạp. Kiến thức lâm sàng thực tế về độ trong mờ và cách truyền đạt nó còn hạn chế. Vì lý do đó, các nha sĩ phục hình nên đơn giản hóa việc truyền đạt với phòng lab và đồng nghiệp. Sử dụng các giá trị trong mờ tương đương với các cấu trúc răng tương tự như các cấu trúc thường được sử dụng với vật liệu composite. Độ dày của phục hình và việc sử dụng xi măng phù hợp dựa trên các yêu cầu về độ trong mờ có tầm quan trọng lớn và được thảo luận trong Chương 7 và 9.

Nguồn: Ruiz, J.-L. (2017). Supra-gingival minimally invasive dentistry: A healthier approach to esthetic restorations. Wiley Blackwell.

Tự học RHM
Website: https://tuhocrhm.com/
Facebook: https://www.facebook.com/tuhocrhm
Instagram: https://www.instagram.com/tuhocrhm/

Ủng hộ page

Share this:

  • Share on Facebook (Opens in new window) Facebook
  • Share on X (Opens in new window) X

Related

Leave a ReplyCancel reply

Bài viết nổi bật

Đăng ký để nhận thông báo qua email, mỗi khi mình có bài viết mới nhé!

Check your inbox or spam folder to confirm your subscription.

Follow me

Tự học RHM
Mỗi ngày học một chút!
-24/05/2021-
Facebook.com/tuhocrhm
Instagram.com/tuhocrhm

©2026 Tự học RHM | Powered by SuperbThemes