4. Vai trò và tầm quan trọng của cảm thụ bản thể (Proprioception)
Ngày nay, người ta công nhận rằng, quá trình nhai là sự kiểm soát trung ương chứ không phải hiện tượng phản xạ (Lund 1983, Campbell 1985, Taylor 1983) và chính các thông tin cảm giác ngoại vi, chủ yếu xuất phát từ các thụ thể cơ học nha chu (Anderson và cộng sự 1970, Mei và cộng sự 1975), cho phép thích ứng tức thì với các cảm giác gặp phải trong quá trình nhai. (Steiner và cộng sự 1974; Gibbs 1981; Nakamura và cộng sự 1989). Trung tâm nhai là một máy phát sinh các chương trình (engrams) trung ương, chịu trách nhiệm về nhịp điệu và thời gian của các vận động chức năng. (Delow và Lund 1971; Sessle 1976).
D’Amico viết rằng: “Răng nanh cũng có một chức năng độc đáo. Chúng là những cơ quan cực kỳ nhạy cảm. Khi tiếp xúc các răng nanh đối diện trong nỗ lực vận động lệch tâm của hàm dưới, chúng truyền tải các xung động cảm thụ bản thể nha chu mong muốn đến các cơ nhai, làm giảm căng cơ và do đó làm giảm độ lớn của lực tác dụng” (D’Amico 1958 Số 6 tr 240).
Điều này là không đầy đủ và phần lớn không chính xác bởi vì “Các sợi hướng tâm nha chu của con người báo hiệu thông tin chi tiết về những thay đổi không gian của tải lực lên răng và đóng góp vào việc kiểm soát không gian của quá trình nhai… Các đặc tính thụ thể của các sợi hướng tâm nha chu ở người là tương tự nhau trên các răng trước và răng sau” (Johnsen và Trulsson 2003a; Trulsson và Johansson 1996b, Türker 2002).
Không có sự ưu tiên nào cho răng nanh.
Hơn nữa “Một nghiên cứu gần đây từ phòng thí nghiệm của chúng tôi đã chứng minh rằng các đặc tính thụ thể của các sợi hướng tâm nha chu ở người của răng trước và răng sau là tương tự nhau. Tuy nhiên, các phân tích về phản ứng quần thể đã làm rõ rằng các sợi hướng tâm nha chu ở răng trước và răng sau khác nhau về khả năng báo hiệu các lực ngang và dọc” (Johnsen và Trulsson, 2005 tr.1889). “Trong quá trình nhai, khi các mảnh thức ăn được nghiền thành các miếng nhỏ hơn, các lực dọc mạnh và đặc biệt là các lực ngang được tác động lên các răng cối nhỏ và răng cối lớn. Các thụ thể nha chu tại răng cối nhỏ và răng cối lớn rất phù hợp để mã hóa chi tiết những thay đổi về thời gian và không gian của các lực tác động lên răng này” (Johnsen SE và Trulsson M. 2003a tr.1486)
Từ 6 tuổi, các sợi nha chu hướng tâm của các cặp răng cối lớn thứ nhất là thứ duy nhất thực hiện hoàn toàn vai trò này. Sau đó các răng cửa và răng nanh cũng sẽ cung cấp sự cắt dọc và đồng hành cùng quá trình nhai (Mei và cộng sự .1975, Johnsen và Trulsson, 2005). Nếu các răng nanh bị khóa khớp (interlocked), sự hướng dẫn quá mức của chúng, trong quá trình in và out, sẽ ngăn cản các tiếp xúc giữa các răng sau. Sẽ có sự mất mát thông tin cảm thụ bản thể (trực tiếp hoặc gián tiếp) và sự vô tổ chức của động học nhai. Thật vậy: “Sự vắng mặt của đầu vào cảm giác dẫn đến giảm lực nhai và kiểm soát không gian bị méo mó của các vận động hàm trong khi nhai” (Inoue và cộng sự.,1989, Lavigne và cộng sự., 1987, trích dẫn bởi Johnsen SE và Trulsson M. 2003a tr.1486). Nói cách khác, sự phối hợp kém của các bề mặt nhai răng sau làm thay đổi, giảm hoặc mất đi các đầu vào cảm giác cơ bản, dẫn đến giảm lực nhai và giảm biên độ và / hoặc hình dạng bị sửa đổi của các chu trình nhai. Điều này dẫn đến sự giảm đáng kể hiệu quả chức năng của chúng.
Tầm quan trọng của việc nhai trong dinh dưỡng và tiêu hóa hiện nay đã được biết đến nhiều hơn. Nhiều nghiên cứu đánh giá đã chỉ ra rằng suy giảm khả năng nhai làm thay đổi chế độ ăn uống và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe (N’gom và cộng sự 2010; Lexomboon và cộng sự 2012).
Trong hơn 25 năm, trong thực hành lâm sàng, (được minh họa bằng hình ảnh và/hoặc video ghi lại), chúng tôi thường xuyên quan sát các chu trình có bao hình bị biến dạng và đôi khi chỉ còn là cắt dọc đơn giản. Chúng tôi có thể nói rằng tình trạng này có thể đảo ngược, bởi vì khi sự cân bằng chức năng của các bề mặt nhai được khôi phục (bằng cách đắp thêm) và các đầu vào cảm giác được tái thiết lập và cân bằng, các chu trình ngay lập tức tìm lại được động học tối ưu và sức mạnh nghiền của chúng, mà không cần bất kỳ sự học lại nào. (Le Gall và Lauret 1998, www.mastication-ppp.net). Điều này là không thể chối cãi về mặt lâm sàng. (video YouTube: https://youtu.be/Heo8c8KM4WY ).
Nhưng những dữ liệu này phụ thuộc vào một số thông số khác như: số lượng thụ thể cơ học so với bề mặt chân răng, bản thân nó có mối quan hệ với các lực được hỗ trợ bởi các răng khác nhau, tùy thuộc vào vị trí của chúng trên cung hàm, độ lung lay lâm sàng, cấu trúc chân răng và các đặc tính của xương nâng đỡ.
1- Cần phải tác dụng một lực cao gấp 4 lần lên các răng cối lớn để có cùng mức độ phân biệt như ở răng cửa (Johnsen và Trulsson, 2005), nhưng nhờ hiện tượng đòn bẩy từ các cơ nâng hàm, các lực trên các răng trước thấp hơn từ 8 đến 10 lần so với trên các răng sau (Fontenelle và Woda; trong Chateau 1993) (tại răng nanh, có khả năng phạm vi lực tác dụng này ít hơn 6 đến 8 lần so với răng cối lớn). Các lực tác dụng lên răng cối lớn mạnh hơn nhiều so với răng trước, có quá nhiều thông tin, sự phân biệtáp lực sẽ được tạo điều kiện thuận lợi trên răng sau và cần ít sự kích hoạt thụ thể cơ học hơn so với khi các lực này kém quan trọng hơn, như trên các răng trước, do đó mức độ nhận thức thông tin là tương đương giữa răng cửa, răng nanh và răng cối lớn.
2- Nghiên cứu của Parfitt (1960) chỉ ra rằng độ lung lay sinh lý trung bình của răng cối lớn thứ nhất hàm trên là 56 micromet so với 64 μm của răng nanh hàm trên và 108 μm của răng cửa giữa (đối với răng lung lay độ 1). Những con số này được chứng thực bởi cấu trúc chân răng và bề mặt của những răng này, tùy thuộc vào chất lượng cơ học của xương nâng đỡ (Le Gall và Saadoun 1993). Ví dụ, R6 hàm trên (M1) có diện tích bề mặt chân răng là 480mm² so với 380mm² của R6 hàm dưới và tương ứng là 263 và 245mm² đối với răng nanh trên và dưới, với bản xương vỏ mặt ngoài cực kỳ mỏng. (Hình 3-12).

Trong bối cảnh này, các đặc điểm cơ sinh học của răng nanh dường như không đặc biệt như D’Amico tuyên bố trong bài báo thứ 6 năm 1958 của ông và bị vượt qua bởi những đặc điểm của các răng cối lớn thứ nhất. Vị trí của các răng này, độ lung lay rất hạn chế của chúng, các hướng dẫn đôi ở cycle in, và chân răng dạng kiềng ba chân của chúng, cho phép chúng chịu đựng một mình các lực nhai với các hướng dẫn chủ đạo. Điều này không xác nhận suy luận về “giải quyết các lực đối kháng” (d’Amico, Bài báo Số 6, 1958), vốn bị giới hạn một cách đơn giản hóa chỉ trong các lực theo chiều dọc. Răng nanh xuất hiện muộn trên cung hàm và vị trí của nó được áp đặt bởi mô hình nhai đã tồn tại trước đó, có nghĩa là một khoảng rơ chức năng đủ được giữ lại, với các răng tiếp xúc, để động học đã tồn tại trước đó được giữ lại, và áp đặt nó cho răng nanh. Kết quả là, răng này hỗ trợ các lực thấp hơn nhiều, nhưng nhờ vị trí của nó, nó tham gia vào việc cắn và nhai trong khi nhìn chung hướng dẫn chuyển động sang bên một mình. Cơ chủ yếu thực hiện chuyển động này: bó dưới cơ chân bướm ngoài đối bên. Bằng cách hạ xuống và di chuyển lồi cầu ra trước và sang bên, lực ngang tác dụng lên răng nanh trong quá trình chuyển động này là thấp, điều này giúp hiểu tại sao răng nanh hàm trên có thể chịu đựng được lực sang bên, với một bản vỏ xương mặt ngoài mỏng như vậy. Ngay cả trong trường hợp nghiến răng (bruxism), vị trí xa so với các cơ nâng hàm và cánh tay đòn, không cho lực lớn tác dụng lên răng nanh như ở vùng răng cối lớn.
5. Giá khớp cơ học và sự tái tạo chức năng
Kỷ nguyên đó mang tính cơ học với khái niệm Tương quan tâm (CR), và trục bản lề “Bằng chứng xác nhận rằng khớp thái dương hàm có một tâm xoay không đổi trong quá trình mở và đóng của hàm dưới.” D’Amico số 6 1958 tr. 240). Thực tế tất cả các giá khớp cơ học, đã được thiết kế theo nguyên tắc trục bản lề cố định này và được coi là những thiết bị tái tạo động học khớp và hàm dưới. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi thấy sự xác nhận của Bảo vệ Răng nanh, được thực hiện trên các mẫu hàm gắn trên giá khớp (D’Amico số 6 1958 tr 205-206).
Khái niệm trục bản lề hiện đang bị tranh cãi bởi thực tế là các bề mặt răng khớp lại gần nhau hơn trong quá trình nhai (Gallo L 2005, Palla S và cộng sự 2003, Jaisson và cộng sự 2011). Điều này cho phép các bề mặt nhai của các răng cối lớn đang nhai thức ăn, dần dần tiến lại gần các răng đối diện, tùy thuộc vào trạng thái nghiền viên thức ăn. Khi các tiếp xúc trực tiếp giữa các răng xảy ra xuyên qua viên thức ăn trong các chu trình cuối cùng, đây là một tín hiệu mạnh mẽ để kích hoạt nuốt.. (Hình 13 đến 16). Tuy nhiên, sự đàn hồi này là không thể mô phỏng trên các giá khớp cơ học thông thường có một trục bản lề đơn giản hóa và không nén được. Xem video YouTube: https://youtu.be/jiZD7JppW3w




D’Amico viết về điều này trong bài báo Số 6 tr 205,: “…Trong cả ba trường hợp trước, mối quan hệ chức năng là giống hệt nhau, tất cả đều có khóa khớp răng nanh. Trong các vận động sang bên của hàm dưới, (trên giá khớp Hình 3-17 đến 3-19) không có múi hoặc sườn nào của các răng cối nhỏ và răng cối lớn đối diện tiếp xúc cho đến khi hàm dưới trở lại tương quan tâm với bộ răng ở khớp cắn trung tâm. Trong mối quan hệ chức năng như vậy, không có lực tác dụng nào của cơ thái dương và cơ cắn theo trục dài của răng”.

3-17- Hình ảnh các mẫu hàm được đặt ở vị trí Lồng múi tối đa, hay “khớp cắn trung tâm”.
3-18- Hình ảnh chuyển động sang phải theo hướng từ trong ra ngoài (ly tâm) trên giá khớp. Chuyển động sang bên này được thực hiện với sự hướng dẫn nhóm răng trước trên răng nanh. Hoàn toàn không có bất kỳ tiếp xúc nào ở nhóm răng sau. Đường trượt trở về theo hướng từ ngoài vào trong (hướng tâm) trên giá khớp cũng giống hệt như chiều đi, với sự hướng dẫn phía trước của răng nanh, không có tiếp xúc răng sau, trước khi đạt đến vị trí Lồng múi tối đa. Trong khi đó, trong quá trình nhai thực tế, luôn có sự tiếp xúc và các hướng dẫn ở nhóm răng sau.
3-19- Hình ảnh chuyển động sang bên của phía đối diện trên giá khớp. Có sự nhả khớp (disclusion) ở bên phải (bên không làm việc).
Sự chứng minh này trên giá khớp, về sự Bảo vệ Răng nanh “trong khi nhai”, là sai lầm cơ bản, bởi vì, sự bảo vệ răng nanh này, không tồn tại một cách tự nhiên khi quan sát nhai thực tế, hoặc được ghi lại trên videoclip (Hình 3-13 đến 3-16, 5B3-1 A,B, 5B3-2 A,B). Quá nhiều dữ liệu còn thiếu về sinh lý học của nhai, vai trò của các cơ nâng hàm, và các mối quan hệ chức năng của các bề mặt nhai của răng sau, vẫn chưa được mô tả kỹ vào thời điểm này:


- Trên giá khớp, vận động từ trong ra ngoài và vận động ngoài vào trong, được hướng dẫn bởi răng nanh cùng bên và có sự nhả khớp của các răng sau ở cả hai bên. Tuy nhiên, so với trong miệng, khi thành sau của hộp khớp thẳng, sự nhả khớp của các răng sau thường được khuếch đại nhẹ trong quá trình vận động sang bên trên giá khớp, vì góc của chuyển động Bennett không thể điều chỉnh vượt quá 17°.
- Trong miệng bệnh nhân, vận động từ trong ra ngoài được hướng dẫn bởi răng nanh và có sự nhả khớp của các răng sau, ở cả hai bên. Bởi vì vận động này được gây ra bởi sự co của cơ chân bướm ngoài bó dưới đối bên, vốn là cơ hạ hàm và đưa hàm sang bên, và không có hoạt động thực sự của các cơ nâng hàm.
- Trong miệng, trong một chu trình nhai, ở cùng bên thì vận động là hướng tâm, từ ngoài vào trong ở cycle input, tiếp theo đó, sau khi đi qua lồng múi tối đa, có một sự dịch chuyển liên tục, theo cùng một hướng trong cycle output (trong vận động giới hạn, hướng dẫn tồn tại trên tất cả các mặt nhai răng sau, ở bên nhai này). Vận động này được thực hiện với sự co của các cơ thái dương, cơ cắn (các cơ nâng) và cơ chân bướm trong (các cơ nâng và đưa hàm sang bên) ở cùng bên. Trong những điều kiện này, các bề mặt khớp và các răng sau ở bên nhai tiến lại gần nhau hơn theo chiều dọc (Gallo L. 2005, Palla S và cộng sự 2003), khi kích thước viên thức ăn giảm đi, và cho đến khi các răng bắt đầu tiếp xúc, trong các chu trình nhai cuối cùng trước khi nuốt. Sự tiếp xúc giữa các răng xác định bao hình hướng dẫn của các chu trình nhai (Hình 3-23, 5C-1, 5C-2).
- Việc tái tạo chu trình nhai này với các răng sau, là không thể đối với các giá khớp cơ học có hộp khớp không nén được. Nó có thể đạt được trên các giá khớp ảo trong CADCAM. Đó là một sai lầm cơ bản của d’Amico, người đã tưởng tượng một mô hình được sao chép trên mô hình của giá khớp và không dựa trên quan sát động học thực tế của quá trình nhai. Sai lầm này lên án vĩnh viễn khái niệm bảo vệ răng nanh. Mô hình chức năng của con người không phải là mô hình của một giá khớp của thế kỷ hai mươi.
- Ngay cả ngày nay, các giá khớp cơ học vẫn đáng tin cậy và thường không thể thiếu trong khớp cắn tĩnh. Trong bối cảnh này, việc lên giá khớp có thể hữu ích hoặc cần thiết cho phân tích khớp cắn, cho việc lựa chọn kích thước dọc, cho việc xác định mối quan hệ 2 hàm sinh lý hoặc theo trường phái gnathological, việc cân bằng Lồng múi tối đa, trên răng tự nhiên hay implant, hoặc hàm giả. Nhưng đối với các chuyển động, các giá khớp cổ điển, không đủ để mô phỏng nhai một cách chính xác. Việc cân bằng cuối cùng luôn phải được kiểm tra và hoàn thiện trong miệng bệnh nhân bằng cách mô phỏng nhai, bởi vì các phục hình cố định được cân bằng trên giá khớp trong quy trình làm việc, hầu như luôn có các sai lệch khớp cắn chức năng, vốn chỉ có thể được cân bằng trong miệng của bệnh nhân và những hậu quả đặc biệt bị khuếch đại trong implant nha khoa.



Cố gắng duy nhất để ghi lại “chức năng” của vận động sang bên là kỹ thuật FGP (Functional Generated Path), (Meyers 1934, Dawson 1974) bao gồm việc ghi lại mặt khẩu cái của răng nanh cho đến giới hạn vận động sang bên của nó, trên một vật liệu nhựa (sáp hoặc vật liệu khác) được đặt trên khung của một phục hình nhỏ. Kỹ thuật này cho phép điều chỉnh răng nanh và các răng trước trong vận động sang bên. Nó cũng có thể được điều chỉnh theo chức năng thực tế, bằng cách yêu cầu bệnh nhân nhai trên một vật liệu nhựa, ở các răng cối lớn, với điều kiện là chúng được cân bằng về mặt chức năng. Trong trường hợp này có sự mơ hồ về việc sử dụng thuật ngữ “chức năng” cho việc ghi lại vận động tự ý của việc đưa hàm sang bên, không có các tiếp xúc phía sau, trong khi nhai tuân theo một chương trình trung ương, với các tiếp xúc và hướng dẫn hướng tâm giữa các răng sau. Do đó, để tránh nhầm lẫn trong CADCAM, chúng tôi đề xuất sử dụng thuật ngữ CGP (Chewing Generated Path), hoặc CGS (Chewing Guiding Surface), khi nói đến mô phỏng nhai thực tế giữa các răng sau.
6. Các khả năng hiện tại của giá khớp ảo và CADCAM
Một hệ thống CADCAM bao gồm ba phần:
- Đơn vị đầu tiên thực hiện ghi nhận quang học 3D. Dấu quang học của răng, và cung hàm cực kỳ chính xác và đáng tin cậy, với những khác biệt vẫn còn giữa các loại máy. Nó cho phép chúng ta thực hiện một mô hình ảo trong ba chiều, trung thực, có thể thao tác và định hướng ở mọi vị trí. Dấu này cho phép loại bỏ tất cả các nguy cơ sai sót liên quan đến việc lấy dấu thông thường, đổ mẫu hàm và lên giá khớp cơ học. Nó phải được thực hiện trong miệng và không phải trên các mẫu thạch cao – thứ có sự biến dạng và không chính xác.
- Một đơn vị thứ hai thực hiện xử lý kỹ thuật số dấu ảo thu được. Dấu này được liên kết với một giá khớp ảo gnathological và phần mềm thiết kế phục hình. Dữ liệu sau đó được truyền đến đơn vị sản xuất, thường ở định dạng STL
- Đơn vị thứ ba chịu trách nhiệm cho việc thực hiện phục hình. Việc phục hồi phục hình được thực hiện bằng cách trừ (cắt gọt) trên một thiết bị gia công hoặc bằng cách cộng (đắp thêm) trên máy in 3D.
Các kỹ thuật CADCAM vẫn đang phát triển nhanh chóng. Hiện tại, đơn vị chịu trách nhiệm xử lý khớp cắn, động học chức năng và thiết kế phục hình là thứ đang phát triển rất nhanh:
- Hiện tại, các giá khớp ảo đều là các bản sao kỹ thuật số của các giá khớp gnathological, vốn không được thiết kế và vẫn không thể mô phỏng nhai. Để đến gần hơn với nó, một số thông số hoạt động của chúng có thể được sửa đổi thủ công nhưng có giới hạn. Việc ghi lại và sử dụng một chu trình nhai hoàn chỉnh cho việc tái tạo khớp cắn là không thể trên loại vật liệu này,
- Việc ghi nhận chính xác các bề mặt nhai được kiểm soát hoàn toàn và có thể được sử dụng làm cơ sở cho sự tái tạo, với điều kiện là chúng được cân bằng tốt.
- Nếu giải phẫu mặt nhai của răng cần bọc được tái thiết lập trên một răng tạm, một dấu KTS của bề mặt nhai có thể được lấy và tái tạo bởi CADCAM.
- Khi giải phẫu mặt nhai của các răng lân cận không cân bằng hoặc bị mất, giải phẫu chức năng của những răng này trước tiên phải được tái tạo và chu trình tối ưu của chúng được phục hồi trong miệng bệnh nhân, trước khi lấy bề mặt hướng dẫn nhai của chúng làm mẫu (CGS).
- Không giống như các giá khớp cơ học, giá khớp ảo mang lại khả năng đưa các răngsau lại gần hơn ở bên nhai, và trượt chúng lên nhau để thực hiện một mô phỏng gần đúng của quá trình nhai, theo các bề mặt hướng dẫn nhai (CGS), như một số kỹ thuật viên phục hình vẫn làm bằng cách tháo các mẫu hàm khỏi các giá khớp gnathological và khớp chúng bằng tay. Điều này cho phép hướng dẫn tương tự như các răng lân cận trên phục hình đang được thiết kế.
- Giải phẫu mặt nhai của phục hình tương lai, thường được điều chỉnh thủ công trên màn hình, được xác nhận trước. Sau đó các mẫu hàm ảo được đặt vào khớp cắn trên màn hình để ghi lại mối quan hệ khớp cắn bằng máy quét, trước khi được truyền đến máy cắt. Giai đoạn này là cần thiết và tinh tế. Sự điều chỉnh cuối cùng sẽ được thực hiện trong miệng, với khả năng quay trở lại phòng lab để đắp thêm khớp cắn.
- Vì mô hình của các giá khớp ảo là một bản sao của các giá khớp cơ học, nên vẫn cần tối ưu hóa các khả năng điều chỉnh một số giá trị nhất định, để đạt được một sự tái tạo chấp nhận được của việc nhai. Đặc biệt là hướng của cycle input mà không phải lúc nào cũng có thể đạt được (Hình 3-20), bởi vì trên các giá khớp gnathological, việc điều chỉnh góc của chuyển động Bennett, theo hướng ngược lại của quá trình nhai, thường bị giới hạn ở khoảng 17°. Việc điều chỉnh nên được mở rộng đến khoảng 50°, để trong mọi trường hợp sẽ đạt được một góc chính xác của cycle in bám sát gờ chéo của R6 (M1) hàm trên, bởi vì viên bi “lồi cầu” của các giá khớp cơ học không thể nén được, không giống như khớp của con người, cần phải hiển thị một giá trị góc lớn hơn nhiều để mô phỏng cycle input, và bù đắp cho sự thiếu hụt này. Đây có lẽ là một sửa đổi phần mềm nhỏ cần thực hiện, có tính đến: sự xích lại gần nhau theo chiều dọc của các răng hàm dưới và góc dịch chuyển của chúng, khi chúng đi theo gờ chéo của M1 hàm trên. Sự thay đổi này vẫn chưa được thực hiện.

7. Tái tạo Nhai: Đóng góp của 4D
Các hệ thống phân tích và ghi nhận các vận động hàm dưới sử dụng các cảm biến bên ngoài cổ điển hoặc quang học hiện đã có mặt trên thị trường. Chúng có thể ghi lại các chu trình nhai khi được tách rời khỏi giá khớp gnathological – thứ vốn hạn chế các khả năng chuyển động và không có lợi cho sự tái tạo chu trình nhai. Hoạt động của chúng, có tính đến các công nghệ hiện tại, do đó, đi theo đúng hướng của các thiết bị mô phỏng nhai đầu tiên: Replicator®, Sirognatograh®, có khả năng di chuyển trong không gian không bị giới hạn bởi những hạn chế của một bộ mô phỏng cơ học sơ khai.. Có một số thiết bị loại này mà những phát triển mới nhất nhanh chóng đưa chúng đến gần hơn với sự tái tạo tối ưu của nhai:
- The Zebris® có khả năng rất tốt để tái tạo và ghi lại các chu trình nhai và được sử dụng trong University Diploma of functional occlusion of Strasbourg France (Hình 3-21). Phiên bản được sử dụng đóng vai trò như một công cụ để ghi lại các chu trình và chẩn đoán sự mất cân bằng khớp cắn và các bệnh lý của đĩa đệm và động học khớp, bổ sung hoặc thay thế cho các kỳ kiểm tra hình ảnh cộng hưởng từ (MRI). Phiên bản này không thể sử dụng trong CADCAM. Những đổi mới nối tiếp nhau nhanh chóng.
- Modjaw® mà chúng tôi đã có một buổi trình diễn lâm sàng bởi Maxime Jaisson, người thiết kế giải pháp này (Hình 3-22, 3-23). Hệ thống này (Felenc và Jaisson 2018), tiến hóa và mở hơn, trước tiên phải được liên kết với một thiết bị ghi quang học 3D, sau đó sau khi xác nhận dự án phục hình, đến một máy gia công hoặc in 3D, để thực hiện nó. Khả năng mở rộng của nó làm cho nó trở thành một giải pháp đầy hứa hẹn, bởi vì từ các cung răng, được lưu dưới dạng một tệp STL mở, có thể:
- nhờ vào các điểm tham chiếu, sử dụng nó như một cung mặt để định vị mẫu hàm ảo hàm trên, và sau đó xem tất cả các tiếp xúc của lồng múi tối đa trên màn hình,
- có thể kết hợp việc đeo một khí cụ (jig) răng trước hàm trên được điều chỉnh đặc biệt, để phân tích quỹ đạo đóng với đầu lưỡi ở tư thế nuốt và có thể thể hiện một tiếp xúc sớm có thể có trên các mẫu hàm ảo.
- và quan trọng nhất, để mô phỏng, trực quan hóa và ghi lại các chu trình nhai của bệnh nhân, hoặc sang phải hoặc sang trái, và đồng thời quan sát các chuyển động của mô hình hàm dưới ảo tái tạo các chu trình nhai với hàm trên, mà không có những hạn chế của một giá khớp gnathological. Các tiếp xúc và hướng dẫn răng động được cụ thể hóa bằng màu sắc và trở nên nhìn thấy được trên các mẫu hàm ảo, bên ngoài miệng bệnh nhân. Chúng có thể được liên kết với hình dạng của các chu trình. Việc phân tích sự phân bố, thiếu hụt, dư thừa hoặc sự cân bằng của các bề mặt hướng dẫn nhai (CGS) có thể được thực hiện mà không cần phải chêm giấy cắn, film màu hoặc các thiết bị khác giữa các răng. Điều này cũng thú vị ở bên không nhai, nơi chỉ cần chêm một film có thể gây ra các co thắt cơ.

Mô hình CGS ảo này có thể được ghi lại, xuất ra định dạng STL và được sử dụng để thiết lập một chẩn đoán và đạt được các mục tiêu khác nhau: phẫu thuật, khớp cắn, phục hình, thẩm mỹ hoặc các mục tiêu khác.
Chúng ta sẽ giới hạn ở các khía cạnh khớp cắn chức năng:
- Mẫu hàm ảo này có thể được sử dụng trực tiếp để tạo ra một mẫu hàm chẩn đoán và sau đó tạo một mẫu hàm điều trị, nhờ vào một wax-up ảo,
- hoặc xuất đến một đơn vị sản xuất và in ra để có các mẫu hàm
- Vẫn còn một vấn đề. Để sử dụng Chewing Guides Surfaces làm tham chiếu và mẫu hàm cho việc thực hiện hướng dẫn điều trị, chúng phải được cân bằng và các chu trình phải có động học tối ưu (điều này không phải lúc nào cũng xuất hiện trên các video về các chu trình nhai được trình bày). Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có khả năng thực hiện một phân tích dự đoán đáng tin cậy về hình dạng tối ưu của các chu trình nhai của một bệnh nhân. Khi giải phẫu mặt nhai bị mất, chúng ta luôn có nghĩa vụ phải trải qua bước đắp thêm composite thực hiện trong miệng, bắt đầu với các cặp răng cối lớn thứ nhất, để dần dần mang lại sự hài hòa động học nhai của các răng này với động học của TMJ. Sau đó chúng ta dần dần thấy hình dạng của chu trình thay đổi và tìm thấy biên độ và hiệu quả chức năng tối ưu của nó. Điều này cho phép chúng ta có mô hình nhai động của bệnh nhân. Từ CGS đã được ghi này, có thể thực hiện mô hình điều trị chức năng của riêng bệnh nhân và tái thiết lập các bề mặt nhai chức năng lân cận của nó
- Độ chính xác của tất cả các tiềm năng này tất nhiên sẽ phải được xác nhận về mặt lâm sàng.
- Tuy nhiên, tình trạng này có thể thay đổi nếu các thông số chức năng sinh lý của răng và toàn bộ bộ máy nhai có thể được tích hợp vào phần mềm máy tính để tạo ra mẫu hàm chẩn đoán trước và sau đó là mẫu hàm điều trị.
- Bước đầu tiên có thể là tạo ra một loại “avatar chung” của cặp răng cối lớn thứ nhất vốn sẽ giữ lại bộ nhớ về các đặc điểm khớp cắn-nhai của chúng, trong khi có thể chịu các biến dạng thích nghi đối với hình thái và các đặc điểm cụ thể của các răng của các bệnh nhân khác nhau, điều này sẽ cho phép sự tích hợp của chúng vào các cung răng. Avatar được cá nhân hóa này sau đó sẽ phục vụ như một khuôn mẫu cho việc tái thiết lập chức năng của các răng lân cận.
- Chính trí tuệ nhân tạo (AI) và sức mạnh của các thuật toán, sẽ làm cho mô hình này trở nên khả thi. Sự cải thiện dần dần của nó, nhờ khả năng học hỏi và tự thích nghi của AI, sẽ được thực hiện khi số lượng các thông số lâm sàng được ghi lại trong ngân hàng dữ liệu tăng lên. Trong y học, việc phân tích các khối lượng dữ liệu khổng lồ này (Big Data) đã được thực hiện nhờ các phương pháp mới để xử lý chúng vì các phương tiện thông thường không biết cách quản lý . Vẫn còn rất nhiều công việc phải làm để hoàn thiện và tối ưu hóa các khả năng này. Nhưng chúng ta đang đi đúng hướng…
Nguồn: Le Gall, M. G., & Joerger, R. (2019). FUNCTIONAL OCCLUSION – THE CANINE 60 YEARS AFTER D’AMICO: MYTH OR REALITY? (Part 1).
Tự học RHM
Website: https://tuhocrhm.com/
Facebook: https://www.facebook.com/tuhocrhm
Instagram: https://www.instagram.com/tuhocrhm/