1. Hiệu quả
Quy trình tẩy trắng tại phòng khám sử dụng hydrogen peroxide (HP) nồng độ cao, thường từ 15% đến 40%. Hiệu quả làm trắng quan sát được không phụ thuộc vào nồng độ gel tẩy (Maran et al. 2020a; Pontes et al. 2020), bởi HP là phân tử hoạt động mạnh với vai trò là chất oxy hóa nhờ hình thành các gốc tự do, phân tử oxy phản ứng và anion HP (Bowles & Ugwuneri 1987).
Nghiên cứu trước đây xác nhận màu răng chịu ảnh hưởng bởi các sắc tố hữu cơ nội tại trong cấu trúc răng (Fuss et al. 1989; Watts & Addy 2001; Sulieman et al. 2003; Joiner 2006). Các sắc tố này là phân tử hóa học mang màu, bao gồm phân tử phức tạp như hợp chất thơm hoặc phức hợp kim loại vô cơ sinh học như chelate (Eimar et al. 2012b). Những hợp chất hóa học này có thể được xác định bằng quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) và quang phổ Raman (Eimar et al. 2012b). Tuy nhiên, giới nghiên cứu vẫn chưa phát hiện được chính xác loại sắc tố nào trong số đó (Fattibene et al. 2005; Eimar et al. 2011, 2012a). Gần đây, giả thuyết cho rằng HP làm trắng răng đơn thuần thông qua quá trình oxy hóa các chất nền hữu cơ trong suốt. Quá trình này khiến các ma trận trở nên trắng và đục hơn, dẫn đến màu răng sáng lên (Kawamoto & Tsujimoto 2004; Eimar et al. 2012b).
Một số đặc điểm của tẩy trắng tại phòng khám cần được lưu ý. Việc răng trông sáng hơn ngay sau buổi tẩy không chỉ do tác động oxy hóa của HP lên nền hữu cơ răng. Ngoài oxy hóa, tình trạng mất nước và mất khoáng men răng cũng có thể xảy ra. Do tẩy trắng tại phòng thường được thực hiện trong điều kiện cách ly (sử dụng đê cao su hoặc vật liệu chắn nướu quang trùng hợp kết hợp banh môi/má), hiện tượng mất nước răng luôn đi kèm quy trình này. Hiệu ứng này rất rõ khi dùng đê cao su cách ly dù chỉ trong thời gian ngắn (Hình 7.1). Một nghiên cứu gần đây (Burki et al. 2013) chứng minh rằng chỉ việc đặt đê cao su trong 10 phút đã có thể làm răng sáng lên với ∆E = 7.3, mà không cần bất kỳ tác động tẩy trắng nào. Mất nước khiến răng trông trắng hơn nhờ tăng độ đục men răng. Ánh sáng không còn dễ dàng tán xạ giữa các tinh thể hydroxyapatite (Fondriest 2003; Burki et al. 2013). Độ đục tăng do mất nước gây phản xạ nhiều hơn, che lấp màu ngà răng bên dưới và do đó răng trông sáng hơn. Hiệu ứng “sáng” này (do mất nước) sẽ biến mất sau vài giờ hoặc vài ngày (Hình 7.1).

Bên cạnh mất nước, mất khoáng men răng là hệ quả từ độ pH thấp của đa số sản phẩm tẩy trắng. Hầu hết gel tẩy trắng tại phòng có pH thấp vì chúng ổn định hơn trong môi trường axit so với kiềm. Axit yếu thường được thêm vào để ngăn dung dịch phân hủy khi bảo quản HP (Chen et al. 1993), khiến sản phẩm có đủ tính axit để gây mất khoáng men răng. Độ pH của gel tẩy trắng tại phòng khám dao động từ 2.0 đến 9.0 (Price et al. 2000; Freire et al. 2009; Majeed et al. 2011; de Mendonça et al. 2021).
Xét đến tình trạng mất nước và mất khoáng tạm thời xảy ra đồng thời với tác dụng của thuốc tẩy trong quy trình tại phòng khám, kết quả thẩm mỹ không nên được đánh giá ngay sau buổi tẩy. Độ tin cậy của so màu sẽ đáng ngờ nếu thực hiện ngay sau điều trị – điều này dẫn đến kết luận sai lầm rằng tẩy trắng tại phòng khám hiệu quả tương đương tẩy trắng tại nhà.
Hiệu ứng thay đổi màu sắc khi đánh giá răng chưa được bù nước hoàn toàn đã xuất hiện trong nghiên cứu của Matis et al. (Matis et al. 2007). Đồ thị dưới đây thể hiện thay đổi thông số L* (Hình 7.2) và b* (Hình 7.3) sau một buổi tẩy trắng tại phòng khám. Trên trục “x”, thời điểm 0 tương ứng với đo màu ngay sau tẩy; các thời điểm còn lại biểu thị phép đo hàng tuần đến tuần thứ 6. Nhìn chung, sự thay đổi màu sắc (thông số L* và b) rõ rệt nhất khi đo ngay sau thủ thuật (thời điểm 0), với sự giảm đáng kể của L và tăng b* sau 1-2 tuần do răng được bù nước và tái khoáng hóa. Do đó, hiệu ứng tẩy trắng “thực sự” từ quá trình oxy hóa chỉ có thể đo được sau 1-2 tuần kể từ khi kết thúc buổi tẩy trắng tại phòng khám.,

Sự khác biệt giữa “kết quả làm trắng” quan sát ngay sau tẩy và kết quả đo sau 1 tuần thường bị hiểu nhầm là sự tái nhiễm màu, khiến một số nhà nghiên cứu kết luận tẩy trắng tại phòng khám kém hiệu quả hơn tẩy trắng tại nhà (Matis et al. 2007). Một số nghiên cứu chỉ ra rằng 1 tuần tẩy trắng tại nhà bằng gel carbamide peroxide 10% hoặc 16% thường dẫn đến thay đổi từ hai đến bốn bậc màu trên bảng so màu Vita Classical A1-D4 (VITA Zahnfabrik H. Rauter GmbH & Co. KG, Bad Säckingen, Đức) (Zekonis et al. 2003; Bernardon et al. 2010; Costa et al. 2010; Rezende et al. 2013). Mức thay đổi này tương đương với thay đổi được báo cáo sau một buổi tẩy trắng tại phòng khám với gel HP 35% sử dụng trong 45-60 phút (Zekonis et al. 2003; Bernardon et al. 2010; Kossatz et al. 2011; Reis et al. 2011b).
Các yếu tố khác có thể giải thích cho quan niệm phổ biến rằng tẩy trắng tại phòng khám kém hiệu quả. Hiệu quả làm trắng phụ thuộc vào nồng độ, thời gian sử dụng và số lần thay gel trong buổi tẩy tại phòng khám (Dietschi et al. 2006; Joiner 2006; Matis et al. 2007). Trong hai tổng quan hệ thống (Luque-Martinez et al. 2016; Maran et al. 2020a), chúng tôi ghi nhận sự không đồng nhất cao giữa các nghiên cứu về nhiều vấn đề như loại vật liệu, nồng độ sản phẩm và sự khác biệt đáng kể trong quy trình tẩy trắng tại phòng khám.
Phác đồ tẩy trắng không đầy đủ sẽ không mang lại kết quả mong muốn. Ví dụ, một số nghiên cứu chỉ thực hiện một buổi tẩy trắng duy nhất tại phòng khám (da Costa et al. 2010; Giachetti et al. 2010; Moghadam et al. 2013; Pintado-Palomino et al. 2015), vốn không đủ để đạt được sự hài lòng của bệnh nhân (de Silva et al. 2006; Salem & Osman 2011). Cần ít nhất hai hoặc ba buổi tẩy để đạt mức độ làm trắng tương đương liệu trình tẩy tại nhà 2-3 tuần (Marson et al. 2008b; Tay et al. 2009; Bernardon et al. 2010; Reis et al. 2011b, 2013; Basting et al. 2012).
Sự thay đổi tương tự xảy ra với thời gian sử dụng sản phẩm. Thời gian 40-50 phút có liên quan đến kết quả làm trắng đáng kể, nhưng có báo cáo về thời gian ngắn hơn như 10-20 phút (Auschill et al. 2005; Giachetti et al. 2010; Mehta et al. 2013). Một nghiên cứu lâm sàng gần đây báo cáo rằng một lần sử dụng gel HP 35% trong 15 phút không đạt mức làm trắng như khi sử dụng hai hoặc ba lần trong 15 phút với cùng sản phẩm (Kose et al. 2016; Meireles et al. 2021).
Một số nhà sản xuất khuyến nghị sử dụng sản phẩm kết hợp kích hoạt bằng ánh sáng (đèn halogen thạch anh-vonfram, đèn LED, laser) để tối ưu hóa kết quả tẩy trắng (Ziemba et al. 2005; Kishi et al. 2011; Bortolatto et al. 2014). Lợi ích của kích hoạt ánh sáng vẫn gây tranh cãi (Buchalla & Attin 2007; He et al. 2012) và dường như không hiệu quả với gel HP nồng độ cao (Marson et al. 2008b; Alomari & El Daraa 2010; Kossatz et al. 2011). Với gel HP nồng độ thấp, kết hợp ánh sáng có thể mang lại một số lợi ích (Ziemba et al. 2005; Ontiveros & Paravina 2009; Bortolatto et al. 2014). Tuy nhiên, những lợi ích này chưa được xác nhận trong một số tổng quan hệ thống gần đây trên nghiên cứu lâm sàng (He et al. 2012; Maran et al. 2018, 2019; SoutoMaior et al. 2019). Vấn đề này sẽ được thảo luận chi tiết hơn trong phần Câu hỏi thường gặp ở cuối chương.
Sự khác biệt về nồng độ tẩy trắng tại phòng khám giữa các nghiên cứu khiến việc so sánh các phác đồ trở nên khó khăn. Tuy nhiên, hiệu quả tẩy trắng đã được ghi nhận trong các nghiên cứu sử dụng HP 35% với báo cáo thay đổi tổng thể từ năm đến tám bậc màu sau hai buổi tẩy (Marson et al. 2008b; Tay et al. 2009; Bernardon et al. 2010; Strobl et al. 2010; Reis et al. 2011a). Phạm vi thay đổi màu rộng này có thể là kết quả của sự khác biệt nhỏ về nồng độ HP, số buổi tẩy và màu răng ban đầu của người tham gia thử nghiệm lâm sàng (Rezende et al. 2016b).
2. Tác dụng phụ
Vì phương pháp tẩy trắng tại phòng khám sử dụng hydrogen peroxide (HP) nồng độ cao, nó gây ra nhiều lo ngại về tác dụng phụ hơn so với tẩy trắng tại nhà. Hai tác dụng phụ thường gặp nhất của tẩy trắng tại phòng khám là nhạy cảm (TS) do tẩy trắng và bỏng mô nướu.
2.1. Nhạy cảm răng (TS)
Mặc dù hiệu quả tẩy trắng được ghi nhận rõ ràng với phương pháp tại phòng khám, một số nghiên cứu cho thấy bệnh nhân thường phàn nàn về tình trạng nhạy cảm, đau đớn, và các cảm giác khó chịu khác ở răng được điều trị. Mặc dù cơn đau ở răng đã tẩy trắng có thể khởi phát do lạnh hoặc các kích thích khác, hầu hết bệnh nhân mô tả cảm giác ngứa ran hoặc đau nhói (cảm giác chích) trong thời gian rất ngắn nhưng tần suất thay đổi (Haywood 2005; Kielbassa et al. 2015) mà không cần bất kỳ kích thích rõ ràng nào (Markowitz 2010).
Thật không may, TS xảy ra rất thường xuyên. Nguy cơ TS do tẩy trắng được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng khá dao động, thậm chí vượt quá 50%. Một nghiên cứu tổng hợp dữ liệu từ 11 thử nghiệm lâm sàng về tẩy trắng đã đưa ra ước tính chính xác hơn về những rủi ro này. Đối với tẩy trắng tại phòng khám sử dụng nồng độ cao (35%), nguy cơ TS được báo cáo là 62,9% (95% CI 56,9-67,3), không khác biệt nhiều so với nguy cơ ghi nhận khi dùng carbamide peroxide 10-16% để tẩy trắng tại nhà (51% với 95% CI 41,4-60,6) (Rezende et al. 2016b). Mặc dù nguy cơ TS được báo cáo là tương tự nhau, cường độ TS lại rất khác biệt giữa các phác đồ tẩy trắng. Trên thang điểm đau 0-4, cường độ trung bình chung của TS do tẩy trắng tại phòng khám là 2,8 ± 2,9, trong khi với tẩy trắng tại nhà chỉ là 0,5 ± 0,9 (Rezende et al., 2016b). Ngoài ra, hai đánh giá có hệ thống các nghiên cứu lâm sàng đã so sánh gel tẩy trắng tại phòng khám nồng độ thấp/trung bình với nồng độ cao (Maran et al., 2020a; Pontes et al., 2020). Một trong số đó cho thấy nguy cơ mắc TS thấp hơn 33% (trung bình) khi dùng gel HP nồng độ thấp/trung bình so với gel HP nồng độ cao tại phòng khám (Maran et al., 2020a).
Nguyên nhân gây TS do tẩy trắng vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Vì lý thuyết thủy động lực học về nhạy cảm ngà được chấp nhận rộng rãi để giải thích cảm giác ngà răng, một số tác giả đã sử dụng lý thuyết này để giải thích TS do tẩy trắng (Swift 2005). Tuy nhiên, cơn đau trong và sau tẩy trắng có thể ảnh hưởng đến răng còn nguyên vẹn không lộ ngà, điều này hoàn toàn mâu thuẫn với lý thuyết thủy động lực học (Markowitz 2010). Do đó, các nhà nghiên cứu khác đưa ra giả thuyết rằng TS do tẩy trắng có thể là hậu quả của một mức độ viêm tủy nào đó do lượng HP cao đi vào tủy. Nhiều nghiên cứu khẳng định HP có thể dễ dàng khuếch tán qua men và ngà răng vào tủy (Cooper et al. 1992) và gây tổn thương cho các tế bào tủy như đã trình bày trong Chương 5 (Costa et al. 2010). Một bằng chứng khác cho sự khuếch tán này là sự thay đổi màu sắc ở ngà răng gần tủy xảy ra nhanh như ở vùng ranh giới men-ngà (McCaslin et al. 1999; Haywood 2005). Tổn thương mô tủy có thể dẫn đến giải phóng các yếu tố có nguồn gốc từ tế bào, như adenosine triphosphate (ATP) (Cook & McCleskey 2002) và prostaglandin, kích thích hoặc làm nhạy cảm các thụ thể đau trong tủy (Huynh & Yagiela 2003) gây ra TS do tẩy trắng.
Một số yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng HP thấm vào cấu trúc răng và gây tổn thương. Ví dụ, lượng HP khuếch tán vào tủy lớn hơn ở răng có phục hình (Gokay et al., 2000; Patri et al., 2013; Parreiras et al., 2014). Độ sâu và kích thước của phục hình (Parreiras et al., 2014), cũng như loại chất dán và vật liệu phục hồi (Gokay et al., 2000), cũng có thể đóng vai trò quan trọng trong mức độ thấm của HP.
Kiểu răng là một yếu tố quan trọng khác. Các báo cáo cho thấy ở cung hàm trên (Bonafe et al. 2013), răng cửa bên là răng gây nhiều phàn nàn nhất về TS. Lớp men và ngà mỏng hơn ở răng cửa so với các răng khác có thể tạo điều kiện cho HP đi nhanh vào tủy, rút ngắn thời gian sản xuất và giải phóng các enzyme bảo vệ chống lại tổn thương do HP. Điều này phù hợp với các nghiên cứu mô học về tủy răng người sau tẩy trắng tại phòng khám (Costa et al. 2010; Roderjan et al. 2015). Trong một nghiên cứu (Costa et al. 2010), các tác giả quan sát thấy tổn thương đáng kể ở mô tủy răng cửa hàm dưới nhưng không thấy ở răng cối nhỏ (Chương 5).
Màu răng ban đầu có liên quan chặt chẽ với TS trong một nghiên cứu tổng hợp dữ liệu từ 11 nghiên cứu của cùng nhóm tác giả (Rezende et al. 2016b). Nói cách khác, răng càng sẫm màu thì cường độ và nguy cơ TS càng thấp. Răng sẫm màu có thể có hàm lượng chất hữu cơ cao hơn để giữ HP lại trong nền men và ngà, cho phép ít HP dư thừa di chuyển đến mô tủy hơn. Trong những trường hợp này, có thể ít HP tiếp xúc với mô tủy hơn, dẫn đến TS thấp hơn. Tuy nhiên, đây vẫn là một giả định chưa được nghiên cứu cơ bản hỗ trợ.
Một số phương pháp đã được thử nghiệm để giảm thiểu tác dụng phụ có hại của TS. Việc sử dụng một số loại thuốc toàn thân trước/dùng trong khi tẩy trắng tại phòng khám, như thuốc kháng viêm chọn lọc (etoricoxib) (de Paula et al., 2013), thuốc kháng viêm không steroid (ibuprofen) (Charakorn et al., 2009; Paula et al., 2013), chất chống oxy hóa (axit ascorbic) (de Paula et al., 2014), corticosteroid (dexamethasone) (Rezende et al., 2016a) và sự kết hợp acetaminophen/codeine (Coppla et al., 2018) đã không hiệu quả trong việc ngăn ngừa cả nguy cơ lẫn cường độ của TS, như được xác nhận bởi hai đánh giá có hệ thống gần đây (Carregosa Santana et al., 2019; Costa et al., 2020). Khi dùng qua đường uống, các yếu tố như hệ thống miễn dịch, dẫn lưu bạch huyết, bài tiết qua nước tiểu và đặc điểm hình thái của nền ngà có thể điều chỉnh lượng thuốc đến huyết tương và dịch ngoại bào xung quanh tế bào tủy, khiến những cách tiếp cận này kém hiệu quả.
Biện pháp hiệu quả nhất để giảm thiểu TS là sử dụng thuốc giảm nhạy cảm tại chỗ (Wang et al., 2015; Martini et al., 2021). Việc sử dụng gel chứa 5% kali nitrat và 2% natri florua trước khi tẩy trong 10 phút có thể giảm một nửa cả nguy cơ lẫn cường độ TS (Tay et al., 2009).
Tác dụng của fluoride trong quá trình này không rõ ràng, và hiệu quả giảm nhạy cảm của sự kết hợp natri fluoride và kali nitrat dường như liên quan nhiều hơn đến sự có mặt của kali nitrat. Chất này khuếch tán qua men và ngà răng để đến tủy, tại đó nó tạo ra tác dụng làm dịu thần kinh bằng cách ảnh hưởng đến việc dẫn truyền xung động thần kinh (Ajcharanukul et al., 2007). Sau khi dây thần kinh khử cực để đáp ứng với kích thích đau, nó không thể tái phân cực, do đó làm giảm khả năng kích thích dây thần kinh. Kali nitrat có tác dụng gần như gây tê lên dây thần kinh (Haywood, 2005). Về vai trò của fluoride, giả thuyết cho rằng sự kết tủa các tinh thể canxi florua trong ngà răng có thể làm giảm bán kính chức năng của các ống ngà và tính thấm của mô này đối với hydrogen peroxide. Bằng cách đó, ít hydrogen peroxide hơn đến được buồng tủy, làm giảm nhạy cảm răng. Tuy nhiên, điều này vẫn chưa được xác nhận, vì quá trình này dường như chỉ xảy ra khi bề mặt ngà răng bị lộ.
Một lựa chọn khác là sử dụng Gluma Desensitizer (Kulzer, Wehrheim, Đức), chứa 5% glutaraldehyde và 35% HEMA (Baba et al., 2002; Qin et al., 2006). Do trọng lượng phân tử thấp của glutaraldehyde (khối lượng mol 100 g/mol) và HEMA (khối lượng mol 130 g/mol), Gluma Desensitizer có thể khuếch tán qua men và ngà răng theo cùng con đường với các gốc peroxide. Trên đường đến tủy, glutaraldehyde có thể phản ứng bằng cách tạo liên kết ngang với các protein trong ma trận men và với các protein trong dịch ống ngà (Bedran-Russo et al., 2014), do đó làm giảm sự dễ dàng khuếch tán của các gốc HP đến tủy. Một nghiên cứu cho thấy việc dùng Gluma Desensitizer trong 1 phút làm giảm đáng kể TS trong và sau tẩy trắng so với giả dược (Mehta et al., 2013). Tuy nhiên, trong một nghiên cứu lâm sàng khác, không thấy sự giảm đáng kể nào về nguy cơ và cường độ TS (Diniz et al. 2018).
Mặc dù một số lo ngại rằng việc sử dụng gel giảm nhạy cảm chứa 5% kali nitrat và 2% natri florua trước khi tẩy trắng tại phòng khám có thể ảnh hưởng đến hiệu quả tẩy trắng, hai phân tích tổng hợp gần đây (Wang et al., 2015; Martini et al., 2021) chưa xác nhận điều này, rất có thể là do gel giảm nhạy cảm được sử dụng có tính trong suốt.
2.2. Kích ứng mô nướu
Chỉ cần bảo vệ đầy đủ các mô nướu thông qua việc sử dụng chất che nướu được quang trùng hợp hoặc cách ly bằng đê cao su, thì tình trạng bỏng nướu (Hình 7.4) khó có thể xảy ra. Điều này thường không được báo cáo trong các thử nghiệm lâm sàng về tẩy trắng tại phòng khám và phản ánh kinh nghiệm lâm sàng của các tác giả nghiên cứu. Như đã thấy trong Chương 4, trong trường hợp xảy ra tình trạng bỏng mô, chuyên gia nha khoa nên nhỏ một giọt catalase và/hoặc natri bicarbonate (thường do nhà sản xuất cung cấp) lên vết loét để làm giảm tác hại bỏng. Thường không cần biện pháp nào khác; nhưng trong trường hợp bệnh nhân cảm thấy khó chịu, có thể kê đơn thuốc mỡ gốc corticosteroid để giảm đau.

3. Phác đồ điều trị với quy trình từng bước
Như đã đề cập trước đó, các giao thức tẩy trắng tại phòng khám thay đổi đáng kể trong các báo cáo lâm sàng. Thời gian sử dụng gel tẩy trắng, số lần tẩy trắng, giao thức có cần đến ánh sáng hay không và số lần bổ sung sản phẩm trên bề mặt răng là một số ví dụ.
Trong chương này, chúng tôi sẽ mô tả tất cả các bước liên quan đến một quy trình tẩy trắng hiệu quả và trình bày một số biến thể của từng bước miễn là chúng vẫn có thể mang lại kết quả tẩy trắng hiệu quả. Phần này sẽ được mô tả theo từng bước.
3.1. Quyết định về gel tẩy trắng tại phòng khám
Có nhiều sản phẩm tẩy trắng tại phòng khám trên thị trường nha khoa, khiến việc lựa chọn trở nên khá khó khăn. Chúng khác nhau về nồng độ HP, thường dao động từ 15 đến 40%, và về độ pH (Freire và cộng sự, 2009; Price và cộng sự, 2000; Majeed và cộng sự, 2011). Một số sản phẩm có chứa các chất phụ gia khác như canxi gluconat và canxi phosphat (Favoreto và cộng sự, 2023) và các chất làm giảm nhạy cảm (natri florua, kali nitrat). Các hệ thống này cũng khác nhau về cách sử dụng: hầu hết chúng đều yêu cầu bôi thuốc nhiều lần trong một lần duy nhất tại phòng khám, trong khi đối với một số sản phẩm, chỉ cần sử dụng một lần trong 40-50 phút.
Một số nghiên cứu thú vị báo cáo về sự so sánh của các hệ thống này về cả hiệu quả và tác dụng phụ đã được công bố gần đây, bao gồm hai bài đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp so sánh gel hydrogen peroxide nồng độ thấp (thấp hơn 15%) với gel hydrogen peroxide nồng độ cao. Kết quả cho thấy việc tẩy trắng tại phòng khám với nồng độ hydrogen peroxide thấp hơn dẫn đến tình trạng răng nhạy cảm ít hơn và kiểu tẩy trắng tương tự khi so sánh với gel hydrogen peroxide nồng độ cao (Maran và cộng sự 2020a; Pontes và cộng sự 2020). Đáng tiếc là chỉ có một số ít gel hydrogen peroxide nồng độ thấp có sẵn trên thị trường.
Như đã đề cập trước đó, các sản phẩm làm trắng răng nên có độ pH tương đối kiềm để giảm thiểu thiệt hại tiềm ẩn, nhưng có sự thay đổi pH lớn giữa các loại gel tẩy trắng tại phòng khám (Price và cộng sự, 2000; Freire và cộng sự, 2009; Majeed và cộng sự, 2011). Sự thay đổi này có thể là kết quả của các công thức khác nhau được sử dụng bởi mỗi nhà sản xuất. Trên thực tế, các chất tẩy trắng có chứa chất ổn định và các thành phần vô cơ khác cho phép chúng được lưu trữ trong thời gian dài. Gel tẩy trắng tại phòng khám được cung cấp ở độ pH thấp vì chúng ổn định hơn trong dung dịch có tính axit so với dung dịch có tính kiềm. Khi sản xuất gel HP, người ta thường thêm một loại axit yếu vào dung dịch để ngăn không cho nó bị phân hủy (Chen và cộng sự, 1993).
Một số nhà nghiên cứu đã báo cáo rằng HP được cung cấp trong môi trường kiềm làm tăng hiệu quả tẩy trắng trong ngành công nghiệp len. Hiệu quả này được giải thích bởi thực tế là hằng số phân ly của HP là khoảng 11,5. Trên thực tế, những phát hiện của một nghiên cứu cho thấy rằng đối với pH = 9,0, tốc độ phân ly của HP cao hơn 2,7 lần so với khi ở trong dung dịch axit (pH = 4,4) (Frysh và cộng sự, 1995). Phát hiện này gần đây đã được Torres và cộng sự xác nhận (Torres và cộng sự, 2014), những người đã quan sát trong ống nghiệm rằng hiệu quả của tẩy trắng HP tỷ lệ thuận với việc tăng độ pH của gel tẩy trắng. Tuy nhiên, những biến thể này dường như không tạo ra sự khác biệt về hiệu quả tẩy trắng răng khi so sánh các sản phẩm có độ pH axit và kiềm, mặc dù gel kiềm giảm đáng kể độ nhạy cảm của răng (Kossatz và cộng sự, 2012; Loguercio và cộng sự, 2017).
Ngoài ra, cần đề cập rằng gel kiềm thường có độ pH ổn định hơn trong quá trình sử dụng so với gel axit (Marson và cộng sự 2008a; Balladares và cộng sự 2019; de Mendonça và cộng sự 2021), điều này cho phép chúng được sử dụng trong một lần duy nhất mà không cần phải bổ sung sản phẩm nhiều lần (Reis và cộng sự 2011a,b; Kossatz và cộng sự 2012; Martins và cộng sự 2018).
Mặc dù về mặt sinh học có thể lựa chọn các sản phẩm tẩy trắng có chứa chất khử nhạy cảm hoặc chất tái khoáng hóa, bao gồm kali nitrat và các hợp chất gốc canxi, nhưng hiệu quả của các chất khử nhạy cảm trong các sản phẩm tẩy trắng vẫn đang được tranh luận. Về việc kết hợp kali nitrat vào gel tẩy trắng tại phòng khám, một nghiên cứu duy nhất so sánh sự thay đổi màu sắc và TS do tẩy trắng gây ra của các sản phẩm tẩy trắng có chứa kali nitrat chỉ báo cáo một sự khác biệt đáng kể về cường độ TS, nhưng không có sự khác biệt về hiệu quả tẩy trắng (Maran và cộng sự 2020b). Đối với các hợp chất gốc canxi được thêm vào gel tẩy trắng, một số kết quả khả quan đã thu được (Basting và cộng sự 2012; Kossatz và cộng sự 2012; Loguercio và cộng sự 2015). Ngoài ra, một đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp gần đây đã xác nhận một phần những phát hiện này (Favoreto và cộng sự 2023). Vấn đề này sẽ được thảo luận sau trong chương này.
Dựa trên các bằng chứng gần đây, chúng tôi khuyến nghị sử dụng gel kiềm HP 35% có chứa tác nhân giảm nhạy cảm. Như sẽ được đề cập trong phần Câu hỏi thường gặp, có thể sử dụng nồng độ HP thấp hơn trong kỹ thuật jump-start. Về sự hiện diện của các tác nhân giảm nhạy cảm, chúng tôi vẫn khuyến nghị các sản phẩm tẩy trắng có chứa các tác nhân đó. Việc thiếu bằng chứng cho thấy gel chứa chất giảm nhạy cảm có thể làm giảm TS không thể được hiểu là bằng chứng cho thấy không có tác dụng. Các nghiên cứu này thường có chất lượng thấp và chúng tôi không thể loại trừ thực tế là gel chứa chất giảm nhạy cảm có thể mang lại một số tác dụng có lợi. Chúng tôi có thể tiếp tục sử dụng các sản phẩm này cho đến khi có các nghiên cứu lâm sàng có bằng chứng cao, vì gel chứa chất giảm nhạy cảm không có bất kỳ tác dụng có hại nào được biết đến. Sau cùng thì các sản phẩm nên được sử dụng theo hướng dẫn của nhà sản xuất.
3.2. Xác định màu răng nền
Quy trình này giúp nha sĩ và bệnh nhân theo dõi sự thay đổi màu sắc răng trong suốt quá trình tẩy trắng (Hình 7.5). Bệnh nhân thường nhanh chóng quen với màu răng mới và có thể quên màu răng ban đầu. Điều này càng quan trọng hơn khi tẩy trắng đồng thời cả hai cung răng. Việc ghi lại màu sắc có thể thực hiện bằng bảng so màu (Hình 7.5), máy quang phổ hoặc ảnh chụp răng.

Một số tác giả khuyến nghị tẩy trắng từng cung răng riêng lẻ (Haywood 2005) nhằm giảm nhạy cảm ngà răng (TS), giúp bệnh nhân so sánh tiến độ với cung đối diện và tăng tuân thủ điều trị. Tuy nhiên, phương pháp này làm tăng đáng kể chi phí do yêu cầu nhiều lần hẹn hơn.
Ghi lại màu ban đầu còn giúp dự đoán mức độ trắng đạt được sau điều trị. Một phân tích hồi quy đa biến (Rezende et al. 2016c) chỉ ra mối liên hệ rõ ràng giữa màu sắc ban đầu, độ tuổi và sự thay đổi màu răng. Sau khi hiệu chỉnh các biến số, mỗi đơn vị tăng trên bảng so màu Vita Classical A1-D4 tương ứng mức tăng ~0.66 ΔSGU và 2.48 ΔE – nghĩa là răng càng sẫm màu ban đầu thì hiệu quả tẩy trắng càng cao. Ngược lại, tuổi bệnh nhân ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả (Rezende et al. 2016c). Lưu ý: ΔEab >2.4 vượt ngưỡng cảm nhận 50:50% nhưng vẫn thấp hơn ngưỡng chấp nhận 50:50%, và khác biệt này vẫn có thể chấp nhận lâm sàng với 50% người quan sát (Paravina et al. 2015).
Nhờ đó, nha sĩ có thể quản lý kỳ vọng của bệnh nhân: Người lớn tuổi có răng sáng màu ban đầu có thể cần >2 buổi để đạt hiệu quả tương tự người trẻ tuổi có răng sẫm màu. Việc cạo vôi đánh bóng trước khi ghi màu ban đầu là bắt buộc. Một nghiên cứu cho thấy khác biệt đáng kể (trung bình ΔE = 2) giữa màu răng đo trước và sau cạo vôi (de Geus et al. 2015). Giá trị này thấp hơn ngưỡng chấp nhận 50:50% (Paravina et al. 2015), nhưng ngưỡng này có thể đạt mức phát hiện lâm sàng (ΔEab = 3.0) ở một số bệnh nhân (de Geus et al. 2015).
3.3. Bôi chất giảm nhạy cảm
Như đã đề cập, nhạy cảm ngà răng (TS) là tác dụng phụ chính của tẩy trắng tại phòng khám. Dù không loại bỏ hoàn toàn, gel giảm nhạy cảm 5% kali nitrat bôi trước có thể giảm tỷ lệ và mức độ TS (Tay et al. 2009; Wang et al. 2015; Martini et al. 2021).
Quy trình này có thể thực hiện trước hoặc sau cách ly răng vì gel không gây hại nướu. Tuy nhiên, do gel thường chà bằng bàn chải xoay, nên bôi trước khi bảo vệ mô mềm. Cần phủ một lớp gel dày 1 mm lên bề mặt ngoài răng cần tẩy và giữ nguyên ít nhất 10 phút (Hình 7.6). Sau đó, chà sản phẩm trên mỗi bề mặt răng trong 20 giây bằng bàn chải xoay trước khi loại bỏ. Bước này không ảnh hưởng đến hiệu quả tẩy trắng của hydrogen peroxide (Tay et al. 2009). Cuối cùng, loại bỏ gel bằng gạc (Hình 7.7) hoặc ống hút nước bọt trước khi bôi gel tẩy. Có thể rửa sạch để loại bỏ hoàn toàn sản phẩm.

3.4. Bảo vệ mô mềm
Hydrogen peroxide nồng độ cao (dùng tại phòng khám) có thể gây bỏng mô mềm (Hình 7.4) nên cần tránh tiếp xúc.
Dụng cụ banh môi/má kết hợp che nướu quang trùng hợp (Hình 7.8) là giải pháp phổ biến. Chúng ngăn môi, má, lưỡi tiếp xúc gel, đồng thời che nướu bảo vệ mô nha chu. Tần suất vi nhân tế bào từ mô nướu (dấu hiệu độc tính gen) tăng ở bệnh nhân tẩy trắng tại phòng (Klaric et al. 2013), có thể do bỏng nhẹ hoặc tiếp xúc vật liệu che nướu. Để phòng ngừa, che nướu phải được quang trùng hợp đúng kỹ thuật (Hình 7.8) theo hướng dẫn nhà sản xuất, và nha sĩ cần kiểm tra kỹ từ cạnh cắn để phát hiện các phần còn hở.

Đê cao su cũng có thể dùng để bảo vệ mô mềm. Nên bôi lớp dày dầu khoáng lên nướu trước khi đặt đê. Do tính kỵ nước của dầu, gel tẩy sẽ không tiếp xúc nướu ngay cả khi cách ly không hoàn hảo.
3.5. Sử dụng gel tẩy trắng tại phòng khám
Cần tuân thủ hướng dẫn nhà sản xuất khi dùng gel tẩy (Hình 7.9 và 7.10). Thay đổi giao thức có thể làm chậm hiệu quả hoặc tăng TS (Reis et al. 2011b; Kose et al. 2016; Meireles et al. 2021). Tăng số lần/thời gian bôi gel giúp cải thiện độ trắng nhưng đồng thời tăng nguy cơ TS. Ngược lại, giảm số lần/thời gian bôi hạn chế TS nhưng giảm hiệu quả. Hiện tượng tạo bọt khí trên bề mặt gel khiến một số nhà sản xuất và bác sĩ khuyên chà gel bằng bàn chải siêu nhỏ để lộ lớp gel mới (Hình 7.10), nhưng hành động này không cần thiết do không cải thiện hiệu quả (Kiyuna et al. 2021).

Hầu hết gel tại phòng khám yêu cầu bổ sung trong quá trình điều trị. Một số loại cần bôi lại 2–4 lần/buổi, số khác chỉ dùng một lần trong 40–50 phút. Nhóm sau thường có độ pH kiềm, giúp dùng lâu hơn mà không tăng TS (Kossatz et al. 2012; Reis et al. 2013). Sau mỗi lần bôi, cần loại bỏ gel bằng gòn/gạc hoặc hút tốc độ cao (Hình 7.11) trước khi rửa răng bằng nước để ngừa bỏng mô mềm.

Một thử nghiệm đánh giá việc thay đổi giao thức với gel 35%: thay vì bôi 3 lần (mỗi lần 15 phút), gel được giữ nguyên 45 phút. Kết quả cho thấy tốc độ tẩy chậm hơn và TS tăng, có thể do pH sản phẩm giảm đáng kể trong 45 phút (Reis et al. 2011b).
Như thảo luận chi tiết ở phần FAQ, một số nhà sản xuất khuyên dùng gel kết hợp kích hoạt bằng ánh sáng (đèn halogen, LED, laser) để “tối ưu hóa” kết quả (Ziemba et al. 2005; Kishi et al. 2011; Bortolatto et al. 2014). Tuy nhiên, các đánh giá hệ thống kết luận ánh sáng làm tăng nguy cơ TS và không cải thiện hiệu quả khi dùng gel nồng độ cao (25–35%). Do đó, nha sĩ nên thận trọng hoặc tránh dùng đèn kích hoạt (He et al. 2012). Ngay cả với gel nồng độ thấp, lợi ích của ánh sáng vẫn chưa rõ ràng và cần nghiên cứu thêm (Maran et al. 2018; Ontiveros & Paravina 2009; Bortolatto et al. 2014).
Một buổi tẩy trắng thường không đủ để đạt sự hài lòng của bệnh nhân (de Silva et al. 2006; Salem & Osman 2011). Các nghiên cứu so sánh hiệu quả tẩy trắng tại nhà và phòng khám thường dùng 2–3 buổi. Do cần nhiều hơn một lần hẹn, các buổi thường cách nhau ≥1 tuần để giảm khó chịu – dù chủ yếu dựa trên kinh nghiệm.
Nghiên cứu từ nhóm chúng tôi chỉ ra TS chỉ xuất hiện trong 48 giờ đầu sau tẩy. Một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cho thấy khoảng cách 2 ngày giữa các buổi không làm tăng TS (de Paula et al. 2015). Lưu ý: nghiên cứu này dùng gel kiềm chứa canxi bôi 1 lần/40 phút (de Paula et al. 2015), nên kết luận không áp dụng cho mọi loại gel.
Trong trường hợp lâm sàng (Hình 7.5–7.12), cần hai buổi để đạt hài lòng bệnh nhân. Màu răng cuối nên đo bằng dụng cụ giống lúc ghi màu ban đầu, nhưng thực hiện sau 4–7 ngày kể từ buổi tẩy cuối để tránh ảnh hưởng của mất nước/mất khoáng (Hình 7.12).

4. Độ bền màu và nhu cầu chỉnh sửa
Như đã giải thích trước đó, hiện tượng tối màu răng thoáng qua trong vài ngày sau tẩy trắng tại phòng khám không có nghĩa là quy trình này kém hiệu quả. Để ngăn bệnh nhân có thể thất vọng, chúng ta cần giải thích rằng sự tối màu nhẹ trong vài ngày tới là do quá trình tái hấp thu nước và khoáng hóa lại răng, không phải dấu hiệu thất bại. Việc so màu răng ban đầu giúp nha sĩ theo dõi chính xác sự thay đổi màu nhờ bản chất oxy hóa của gel hydrogen peroxide.
Mặc dù nhiều thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên báo cáo hiệu quả tức thời của các kỹ thuật tẩy trắng, chỉ một số ít đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp tại phòng khám (Giachetti và cộng sự, 2010; Mondelli và cộng sự, 2012; Tay và cộng sự, 2012). Các nghiên cứu này cho thấy kết quả tẩy trắng tại phòng khám ổn định từ 9 tháng đến 2 năm (Giachetti và cộng sự, 2010; Tay và cộng sự, 2012).
Tuy nhiên, về lâu dài, răng vẫn có xu hướng sẫm màu hơn. Khi răng lão hóa, ngà răng thứ cấp liên tục lắng đọng ở tủy và men răng bị mài mòn nhiều hơn. Cả hai yếu tố này đều làm răng trông vàng hơn. Ngoài ra, chúng ta không thể bỏ qua tác động của vết nhiễm màu từ đồ ăn thức uống (Meireles và cộng sự, 2010). Mặc dù những vết màu ngoại lai này dễ loại bỏ bằng các biện pháp phòng ngừa, chúng vẫn có thể ảnh hưởng đến nhận thức của bệnh nhân về độ trắng của răng.
Dựa trên những giải thích trên, có thể thực hiện tẩy trắng lại bất cứ khi nào răng bị tối màu. Một lựa chọn khác là áp dụng thêm một buổi tẩy trắng tại phòng khám, thường mang lại kết quả khả quan. Tuy nhiên, hiện chưa có thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên nào về vấn đề này.
5. Câu hỏi thường gặp (FAQ)
Có cần dùng đèn để kích hoạt peroxide không?
Vì nhiệt và ánh sáng đẩy nhanh quá trình phân hủy hydrogen peroxide (Ontiveros 2011), cả hai phương pháp đã được dùng trong tẩy trắng tại phòng khám từ năm 1918 (Abbot 1918). Tuy nhiên, như đã đề cập, một số thử nghiệm lâm sàng (Marson và cộng sự 2008b; Alomari và El Daraa 2010; Kossatz và cộng sự 2011) và các tổng quan hệ thống gần đây (He và cộng sự 2012; Maran và cộng sự 2018, 2019; SoutoMaior và cộng sự 2019) chỉ ra rằng việc kết hợp nhiệt và ánh sáng với gel HP nồng độ cao không mang lại lợi thế.
Thoạt nhìn điều này có vẻ mâu thuẫn. Về mặt hóa học cơ bản, nồng độ chất phản ứng cao làm tăng số va chạm trên một đơn vị thời gian, từ đó tăng tốc độ phản ứng. Tuy nhiên, nếu phản ứng phức tạp và gồm nhiều bước, có thể tồn tại một ngưỡng mà việc tăng nồng độ không làm phản ứng nhanh hơn. Chúng tôi cho rằng gel HP 35% (hoặc cao hơn) khi dùng riêng lẻ đã tạo đủ gốc tự do để oxy hóa thành phần hữu cơ của ngà răng, nên việc tăng thêm gốc tự do nhờ kích hoạt ánh sáng có thể trở nên dư thừa. Do đó, lượng gốc HP tăng thêm từ ánh sáng không làm tẩy trắng nhanh hơn do tốc độ oxy hóa HP vốn đã không rõ ràng.
Tuy nhiên, điều này có thể không đúng với gel HP nồng độ thấp. Các thử nghiệm lâm sàng đánh giá tác động của ánh sáng với HP nồng độ thấp dường như cho thấy tốc độ làm trắng nhanh hơn (Tavares và cộng sự, 2003; Ontiveros và Paravina, 2009). Với các gel này, yếu tố giới hạn tốc độ phản ứng oxy hóa có thể là lượng gốc tự do, nên việc kết hợp với ánh sáng – vốn làm tăng lượng gốc tự do – có thể giúp phản ứng nhanh hơn và đạt mức trắng tương đương gel HP 35% có hoặc không dùng ánh sáng (He và cộng sự, 2012; Bortolatto và cộng sự, 2014). Cơ chế này chưa được xác nhận trong một tổng quan hệ thống gần đây về tác động của các đèn khác nhau lên gel tẩy trắng nồng độ thấp, vốn không ghi nhận sự cải thiện đáng kể về hiệu quả làm trắng (Maran và cộng sự, 2019).
Có loại Peroxide nào được hoạt hóa bằng ánh sáng không?
Một số nhà sản xuất cho biết sản phẩm của họ chứa carotene (màu cam đỏ) làm chất tạo màu, và chất này có thể coi là chất hoạt hóa vì nó hấp thụ chủ yếu ánh sáng xanh. Nếu chất tẩy trắng hấp thụ năng lượng ánh sáng ở bước sóng này, nó sẽ nóng lên và phân hủy (Ontiveros 2011). Tiếc là một đánh giá chỉ ra rằng mặc dù nhiệt độ của gel chứa carotene có thể tăng đáng kể, nhưng mức tăng này không đủ để đẩy nhanh đáng kể quá trình phân hủy HP (Buchalla và Attin 2007).
Một lựa chọn khác là bổ sung một số kim loại (như hợp chất sắt (II) hay titan dioxit) để tăng cường khả năng oxy hóa của HP. Quá trình quang phân HP liên quan đến các hợp chất này cần được kích hoạt bằng một bước sóng rất cụ thể, tùy thuộc vào kim loại (Ziemba và cộng sự, 2005; Kishi và cộng sự, 2011; Ontiveros, 2011; Bortolatto và cộng sự, 2014). Ví dụ, một nhà sản xuất kết hợp sắt vào gel HP nồng độ thấp. Khi có hợp chất sắt (II), HP có thể tạo thành thuốc thử Fenton. Khi sắt phản ứng (có hoặc không có bức xạ UV), quá trình này được tái tạo và phản ứng oxy hóa khử được đẩy mạnh (Ontiveros, 2011). Đây là lý do các sản phẩm chứa sắt (II) khuyến nghị kích hoạt bằng đèn UV (Kugel và cộng sự, 2009; Ontiveros và Paravina, 2009). Việc dùng đèn UV cần thận trọng. Bệnh nhân, nha sĩ và trợ lý phải mặc đồ bảo hộ vì tia cực tím có thể gây hại cho da. Cần lưu ý rằng phản ứng Fenton xảy ra dù có hay không kích hoạt bằng tia UV. Các nghiên cứu tương lai cần đánh giá hiệu quả tẩy trắng của các hệ thống này mà không cần đèn UV.
Một số gel HP nồng độ thấp (6-15%) chứa các hạt nano oxit titan pha tạp nitơ (chất bán dẫn) đã cho hiệu quả tẩy trắng tốt tương đương gel HP 35% (Bortolatto và cộng sự, 2014; Martin và cộng sự, 2015). Khi tiếp xúc với ánh sáng xanh (đèn LED/laser), các hạt nano này xúc tác quá trình hình thành gốc hydroxyl từ HP (Sakai và cộng sự, 2007). Vì các công thức oxit titan này có thể dùng với ánh sáng khả kiến nên chúng an toàn hơn các công thức trước đây yêu cầu kích hoạt bằng tia UV.
Các nhà sản xuất khuyên dùng gel tẩy trắng tại phòng khám nhiều lần liên tiếp: Cần dùng bao nhiêu lần và trong bao lâu?
Bác sĩ lâm sàng nên tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất về việc sử dụng gel tẩy trắng tại phòng khám. Một số sản phẩm cần được bổ sung hai đến bốn lần trong một buổi điều trị 40-50 phút, trong khi số khác chỉ cần để nguyên trên bề mặt răng suốt thời gian đó. Người ta đề xuất rằng các gel có tính axit hoặc gel giảm độ pH theo thời gian nên được bổ sung; các gel kiềm duy trì độ pH kiềm ổn định trong quá trình sử dụng có thể để nguyên trong suốt thời gian.
Tuy nhiên, giao thức này có thể thay đổi tùy theo tình trạng bệnh nhân. Đối với bệnh nhân răng rất nhạy cảm, tần suất bổ sung gel nên giảm. Thời gian sử dụng cũng có thể rút ngắn. Điều này giúp giảm nguy cơ và mức độ TS (Kose và cộng sự, 2016; Meireles và cộng sự, 2021) nhưng đòi hỏi nhiều buổi điều trị hơn để đạt sự hài lòng của bệnh nhân. Thông thường, cần hai đến ba buổi tẩy trắng tại phòng khám với gel 35% HP để đạt thay đổi màu đáng kể (Marson và cộng sự, 2008b; Tay và cộng sự, 2009; Bernardon và cộng sự, 2010; Strobl và cộng sự, 2010; Reis và cộng sự, 2011a), nhưng điều này có thể thay đổi tùy thuộc vào màu răng ban đầu của đối tượng trong các thử nghiệm lâm sàng (Rezende và cộng sự, 2016c).
Gel chứa canxi phosphat và florua có giúp giảm ê buốt răng sau tẩy trắng tại phòng khám không?
Như đã đề cập, nhiều nghiên cứu báo cáo những thay đổi vi cấu trúc bề mặt men răng do gel tẩy trắng tại phòng khám gây ra (Dahl và Pallesen 2003), hậu quả của độ pH thấp ở hầu hết sản phẩm trên thị trường. Ngoài ra, nhiều bác sĩ tin rằng những thay đổi bề mặt này làm tăng TS do gel gây ra, chủ yếu vì bề mặt trở nên xốp hơn với HP. Điều này dẫn đến việc đánh giá xem liệu việc dùng các chất tái khoáng hóa trước điều trị (Loguercio và cộng sự 2015) hoặc bổ sung chất tái khoáng (florua, hợp chất canxi phosphat,…) vào gel tẩy trắng tại phòng khám (Basting và cộng sự 2012; Kossatz và cộng sự 2012) có giúp giảm TS do tẩy trắng hay không. Các nghiên cứu này không tìm thấy sự giảm TS do tẩy trắng, điều cũng được xác nhận trong một tổng quan hệ thống gần đây (Favoreto và cộng sự 2023). Tuy nhiên, trong tổng quan này, việc dùng tại chỗ một số tác nhân tái khoáng trước hoặc sau tẩy trắng tại phòng khám lại cho thấy giảm đáng kể mức độ TS (Favoreto và cộng sự, 2023). Hơn nữa, không phát hiện tác dụng bất lợi nào lên hiệu quả làm trắng (Basting và cộng sự, 2012; Kossatz và cộng sự, 2012; Loguercio và cộng sự, 2015).
Thực tế, một tổng quan trước đó điều tra tác động của quy trình tẩy trắng lên bề mặt men răng cho thấy những tác động bất lợi này rất nhỏ. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm mô phỏng điều kiện miệng tốt nhất báo cáo rằng ngay khi men răng đã tẩy trắng tiếp xúc với nước bọt, quá trình tái khoáng diễn ra trong vài ngày mà không có tác dụng phụ (Attin và cộng sự 2009). Điều này cũng được xác nhận khi sử dụng gel tại phòng khám in vivo sau khi dùng kéo dài và lặp lại (Spalding và cộng sự 2003; Cadenaro và cộng sự 2008, 2010).
Tại sao một số sản phẩm tẩy trắng tại phòng khám được gọi là “Hoạt hóa bằng hóa chất”?
Như đã mô tả, gel tại phòng khám ổn định hơn trong môi trường axit so với kiềm (Chen và cộng sự 1993). Vì vậy, hầu hết gel tẩy trắng được đóng gói trong hai ống tiêm/chai. Một ống chứa HP, ống còn lại chứa chất tạo màu, chất làm đặc và các thành phần khác.
Khi trộn lẫn cả hai, một “hoạt hóa hóa học” xảy ra, đẩy nhanh quá trình phân hủy HP, giúp gel sẵn sàng sử dụng. Điều này dẫn đến sự hiểu lầm rằng gel tại phòng khám được “hoạt hóa hóa học”. Thực chất, chức năng chính của thành phần hoạt hóa gel (còn gọi là “chất xúc tác” hoặc “chất tăng cường”) là tăng độ pH của hỗn hợp lên gần pKa của hydrogen peroxide (pKa = 11.0), từ đó đẩy nhanh tốc độ phân hủy peroxide và hình thành gốc oxy hóa (Buchalla và Attin 2007).
Kỹ thuật “Jump-Start” có cải thiện kết quả cuối cùng của quá trình tẩy trắng không?
Như đã nêu trong mục 7.1, có một số yếu tố giải thích tại sao bác sĩ lâm sàng lại tin rằng tẩy trắng tại phòng khám kém hiệu quả hơn tẩy trắng tại nhà. Do đó, một số bác sĩ đề xuất kết hợp cả hai (“kỹ thuật tẩy trắng kết hợp”) để tăng hiệu quả và cải thiện độ ổn định màu sắc (Kugel và cộng sự, 1997; Deliperi và cộng sự, 2004; Matis và cộng sự, 2009; Bernardon và cộng sự, 2010). Một tổng quan hệ thống gần đây không tìm thấy sự khác biệt đáng kể về thay đổi màu sắc giữa tẩy trắng kết hợp và chỉ tẩy trắng tại phòng khám, mặc dù nhóm kết hợp có mức TS cao hơn so với chỉ tẩy trắng tại nhà (Cardenas và cộng sự, 2019).
Tuy nhiên, vì cả hai kỹ thuật đều hiệu quả, lợi thế chính của kỹ thuật “jump-start” là đáp ứng nhu cầu của những bệnh nhân muốn tẩy trắng nhanh hơn (Matis và cộng sự, 2009; Bernardon và cộng sự, 2010). Điều này dẫn đến thuật ngữ “khởi động nhanh”, thường dùng để khuyến khích bệnh nhân tuân thủ quy trình tại nhà.
Tẩy trắng tại phòng khám được thực hiện trước khi bắt đầu quy trình tại nhà. Tuy nhiên, thành phần tẩy trắng tại phòng khám có thể kết hợp bất cứ lúc nào, đặc biệt nếu kết quả tại nhà không như mong đợi. Số buổi tẩy trắng tại phòng khám kết hợp sẽ tùy thuộc vào nhu cầu của bệnh nhân và phản ứng tẩy trắng.
Các nghiên cứu lâm sàng đánh giá kỹ thuật kết hợp hoặc “jump-start” thường dùng nồng độ hydrogen peroxide cao cho giai đoạn tại phòng khám (Kugel và cộng sự, 1997; Deliperi và cộng sự, 2004; Matis và cộng sự, 2009; Bernardon và cộng sự, 2010). Điều này giải thích tại sao mức TS cao được báo cáo trong các nghiên cứu đó.
Gần đây, một nghiên cứu lâm sàng so sánh nồng độ HP thấp và cao kết hợp với 10% carbamide peroxide tại nhà cho thấy cả hai phác đồ đều mang lại hiệu quả làm trắng như nhau. Việc cung cấp liên tục gel tại nhà trong 2 tuần sau buổi tại phòng khám có thể bù đắp cho nồng độ HP thấp hơn của gel tại phòng khám. Quan trọng hơn, dùng nồng độ HP thấp trong giai đoạn tại phòng khám giúp giảm nguy cơ và mức độ TS (Rezende và cộng sự, 2016b; Vochikovski và cộng sự, 2022).
Nguồn: Perdigão, J. (2023). Tooth whitening: An evidence-based perspective. Springer.
Tự học RHM
Website: https://tuhocrhm.com/
Facebook: https://www.facebook.com/tuhocrhm
Instagram: https://www.instagram.com/tuhocrhm/
Ủng hộ page
