Composite truyền thống Vật liệu composite truyền thống còn được gọi là ‘vật liệu composite thông thường’ hoặc ‘vật liệu composite macrofilled’ (vì kích thước lớn của các hạt độn). Vật liệu composite truyền thống hiện nay hiếm khi được sử dụng và đã được thay thế phần lớn bằng các vật liệu lai khác….
Category: Nha khoa
Composite – Các đặc điểm
Hệ thống phục hồi màu răng đầu tiên được phát triển vào cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960 bởi Bowen (còn được gọi là nhựa Bowen). Các loại nhựa tổng hợp ban đầu thường là nhựa có chất độn macro và được gọi là vật liệu composite truyền thống. Chúng đông nhờ…
Composite – Thành phần
Về cơ bản, composite là một loại nhựa đã được gia cố bằng cách thêm các hạt silica được gọi là chất độn. Nghiên cứu tiên phong của Bowen cùng với sự phát triển của kỹ thuật ăn mòn axit và chất kết dính, đã tạo nên một cuộc cách mạng trong nha khoa phục…
Xi măng Compomer
Ngay sau khi GIC gia cố nhựa được giới thiệu, các ‘compomers’ đã được giới thiệu ra thị trường. Chúng được bán như một loại vật liệu nha khoa mới sẽ cung cấp những lợi ích kết hợp của vật liệu tổng hợp (chữ ‘comp’ trong tên của chúng) và glass ionomer (‘omer’). Những vật…
Xi măng resin
Xi măng nhựa methyl metacrylate đã có từ năm 1952 để làm xi măng cho inlay, mão và các phục hình khác. Sự phát triển của xi măng nhựa đến một cách tự nhiên cùng với sự phát triển của composite. Về cơ bản chúng là vật liệu tổng hợp có độ nhớt thấp. Các…
Xi măng Glass Ionomer bổ sung nhựa (RMGI)
Để tạo ra thời gian làm việc lâu hơn nhưng thời gian đông kết nhanh chóng, RMGI đã được giới thiệu vào cuối những năm 1980. Các thành phần thiết yếu tương tự như các thành phần trong GI thông thường, trong đó axit polycarboxylic dạng nước trải qua phản ứng thiết lập axit-bazơ với…
Xi măng Glass Ionomer
Xi măng glass ionomer là vật liệu phục hồi chống sâu răng, có màu răng, được sử dụng để phục hồi các vùng bị ăn mòn. Các GI hiện tại đã được sửa đổi để cho phép ứng dụng rộng rãi hơn. Những xi măng này phát triển từ sự không hài lòng chung đối…
Xi măng Oxid kẽm eugenol
Những loại xi măng này đã được sử dụng rộng rãi trong nha khoa từ những năm 1890. Tùy thuộc vào việc sử dụng mà chúng rất khác nhau về tính chất. Nói chung, đây xi măng có độ bền thấp. Chúng là loại xi măng ít gây kích ứng nhất trong tất cả các…
Xi măng kẽm polycarboxylate
Nhà hóa sinh người Canada, Smith đã phát triển xi măng polycarboxylate đầu tiên vào năm 1968 bằng cách thay thế axit photphoric của xi măng kẽm phosphate bằng axit polyacrylic. Polycarboxylate trở thành hệ thống xi măng đầu tiên được phát triển có khả năng bám dính vào cấu trúc răng. Ứng dụng 1….